Xu Hướng 9/2023 # 10 Tác Phẩm Văn Học Kinh Điển Của Việt Nam # Top 9 Xem Nhiều | Cuik.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # 10 Tác Phẩm Văn Học Kinh Điển Của Việt Nam # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 10 Tác Phẩm Văn Học Kinh Điển Của Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Cuik.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đôi lứa xứng đôi – Nam Cao

Tác phẩm Đôi lứa xứng đôi hay còn được biết đến với cái tên Chí Phèo. Tác phẩm khắc họa rõ nét nhân vật Chí Phèo, từ một chàng trai lương thiện, hiền lành của làng Vũ Đại, sống dưới xã hội nửa phong kiến nửa thực dân mà hiện thân cho tầng lớp đó là Bá Kiến, đã đẩy người nông dân ấy vào vực sâu tội lỗi. Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, chuyên đi rạch mặt ăn vạ.

Sau lần gặp gỡ Thị Nở – một cô gái “ma chê quỷ hờn” đã đánh thức được tâm hồn lương thiện của hắn, ước mơ làm người tốt và có gia đình hạnh phúc. Nhưng không, cái kết của truyện khiến người đọc phải ngẫm nghĩ, phải day dứt và thương thay cho cuộc đời nghiệt ngã khi ước mơ đó không thành hiện thực. Chí Phèo đâm dao vào Bá Kiến và cũng là tự kết liễu cuộc đời mình.

Vợ nhặt – Kim Lân

Đôi lứa xứng đôi – Nam Cao

Qua tác phẩm Vợ Nhặt nhà văn Kim Lân đã dựng lên hiện thực đau lòng của nạn đói năm 1945: con người như Tràng, như Thị, như bà cụ Tứ phải vật vờ sống qua ngày bằng thức ăn kham khổ bên trong một căn nhà lụp xụp đổ nát với xung quanh là cái đói đang bao trùm ám ảnh.

Tuy vậy ông đã phản ánh hiện thực ấy bằng tất cả nỗi niềm day dứt, trăn trở. Phải có một tình cảm gắn bó thực sự với người nông dân như vậy, Kim Lân mới có để hiểu đến từng ngóc ngách trong cuộc đời đói khổ của họ, để từ đó mà phát hiện ra những nét đẹp ngời sáng đang ẩn sâu trong sự tăm tối đó. Mặc dù bị đẩy đến đường cùng, bị cái đói làm cho biến dạng méo mó nhân cách, nhưng người nông dân vẫn sẵn sàng chia sẻ nhau từng miếng cơm manh áo, vẫn sẵn sàng cưu mang nhau, và quan trọng hơn là cùng mơ về một tương lai tươi sáng.

Đồng thời Kim Lân cũng thể hiện sự trân trọng và đặt niềm tin vào khao khát và ước mơ mở đường của các nhân vật. Mặc dù cơ hội đó rất mong manh, nhưng nhà văn vẫn hé mở cho họ một tương lai tươi sáng.

Vợ nhặt – Kim Lân

Vang bóng một thời – Nguyễn Tuân

Vợ nhặt – Kim Lân

Vang bóng một thời được xem như là một tác phẩm gần như hướng đến sự toàn thiện toàn mỹ, làm người đọc cảm nhận được nếp sống cũ, những thứ nghệ thuật cổ thanh cao của một nền văn minh xưa cũ và có chút tiếc nuối cho những cái đẹp. “Đẹp” từ việc đo đếm được sức đi của “bút chì” của ông Lý Văn trong truyện “Ném bút chì”, với sức ngang tàng của cái “bút chì” ấy có thể lụy cả một cành tre đẩy cho đến cái nghệ thuật cầu kì trong việc lồng ghép cả một tích truyện vào trong chiếc đèn xẻ rãnh của ông Cử Hai làm cho cậu con Ngộ Lang.

Những cái nghệ thuật cầu kì phức tạp nhưng đầy ý nghĩa đó chẳng thể nào bắt gặp được ở giữa xã hội hiện đại bây giờ. Bạn đọc sẽ thấy được sự tôn vinh cái đẹp của Nguyễn Tuân với một giọng văn đôn hậu xen lẫn chút ngậm ngùi. Những người nghệ sĩ trong từng câu chuyện của ông đơn giản chỉ là tập trung hết sức trong chính cái công việc mà mình đã chọn, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân hiện lên dưới cái ánh sáng mờ ảo, nhàn nhạt.

Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng

Vang bóng một thời – Nguyễn Tuân

Những ngày thơ ấu – đó là một tuổi thơ đẹp nhưng không khó tìm những tủi nhục, đau thương trong những kí ức ấy. Bằng ngôn từ trau chuốt nhưng cũng rất giản dị và đời thường, Nguyên Hồng đã lột tả được một cách sâu sắc nhất những suy nghĩ của nhân vật, những giằng xé, cao trào nội tâm của nhân vật Hồng.

Tác giả đã cho người xem cảm nhận được những khó khăn, những ngây ngô, những cái người lớn, những sự đối lập, những tâm lý của nhân vật một cách sống động. Đồng thời cũng kịch liệt lên án, phê phán những cổ tục đã hành hạ mẹ mình và phải cách xa mẹ một thời gian. Tác giả phân biệt rất rõ rệt và cảm thông cho bà và cô của nhân vật Hồng, bà và cô của ông không có tội. Có chăng là họ đã bị cái thối nát của những cổ tục kia làm nhàu nát lương tâm vốn hiền lành của họ. Lời kết, tuổi thơ của tác giả đã có thể không đẹp, không đầy sắc màu đến thế nếu như sâu bên trong tác giả không có sẵn niềm tự hào, niềm yêu thương vô bờ bến với quá khứ.

Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh

Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng

Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm dễ làm người đọc ám ảnh vì câu chữ sâu xa, đau đớn, tàn khốc của một đời chiến binh với từng đoạn hồi ức đứt đoạn bởi cảm xúc, bởi những đoạn đời ngắn ngủi mà cho dù cố ghép lại cũng không thể liền mạch. Kiên – người kể chuyện, trong mười năm chiến tranh và mười năm hòa bình với gia đình lạc loài không hoàn hảo.

Với tình yêu mãnh liệt, điên cuồng, với hiện thực chẳng thanh cao mà chỉ nhuốm đầy ti tiện của con người. Trong thế giới ấy, Kiên sống mà như đang mộng, mộng trên chiến trường đầy máu, mộng trong cuộc đời liều lĩnh và theo đuổi sự tự do vĩnh cửu. Trang sách khép lại, khó có ai còn thấy bình thường sau những gì đã đọc. Hoang mang, tiếc nuối, tuyệt vọng… với những câu hỏi về đời, về người, về lý tưởng sống mà có lẽ vĩnh viễn, dù con người có cố công tìm kiếm bằng cách nào cũng không ra lời đáp.

Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh

Gió đầu mùa – Thạch Lam

Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh

Người ta nói: “truyện của Thạch Lam là truyện mà không có truyện”… Những tác phẩm của Thạch Lam cứ nhẹ nhẹ bằng bằng, mọi thứ êm đềm trôi theo dòng thời gian và theo mạch cảm xúc của nhân vật, không hề gọi là “kịch tính” hay “cao trào”… Một thiên truyện trải ra như mặt nước mùa thu. Chỉ cần thả hồn vào các trang văn của ông thì bạn đọc sẽ cảm nhận được “mùi vị cuộc đời” man mác tản ra từng câu từng chữ…

Cái tài của Thạch Lam là thế, kể những câu chuyện thật bình thường, thật giản dị, để đôi khi vô tình người ta nhận ra hình ảnh cuộc sống quen thuộc quanh mình trong đó, để có thể lắng lòng mình trong một khoảnh khắc với cuộc đời. Gió đầu mùa là tuyển tập những truyện ngắn như thế của Thạch Lam. Những nhân vật chính trong tập truyện ngắn này có thể là một thanh niên tri thức đầy triển vọng nhưng cạn tình cạn nghĩa, mấy đứa bé dù sợ bị mẹ mắng nhưng vẫn chia sẻ cái dư thừa của mình cho người khác cần hơn… Thạch Lam luôn viết về các nhân vật của mình một cách trìu mến, thể hiện niềm thương xót của ông với cuộc đời đau khổ của họ, những người dưới tầng đáy xã hội, bị người đời khinh rẻ.

Tuổi thơ dữ dội – Phùng Quán

Gió đầu mùa – Thạch Lam

Tuổi thơ dữ dội là tác phẩm văn học hay, phù hợp với tất cả mọi lứa tuổi, lấy đi không ít nước mắt bạn đọc. Đọc từng trang sách, ta cảm tưởng đang trở về với quá khứ xa xưa, dõi theo cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Cậu chuyện của những cậu bé nhỏ tuổi dũng cảm tham gia cách mạng đã gieo vào lòng người mọi cung bậc cảm xúc: có căm ghét, có yêu thương, có niềm vui, nỗi buồn,… Càng đọc ta càng bị cuốn theo những bước chân của “Vê – cu – đê”, để cảm nhận được hết những khó khăn, gian khổ mà nhân dân ta đã phải trải qua dưới ách thống trị thực dân Pháp.

Tuy nhiên, dù viết về thời chiến tranh nhưng Tuổi thơ dữ dội không hề mang âm hưởng u ám, trầm buồn. Tác phẩm vẫn rất hồn nhiên, hài hước, tươi vui bởi cách viết mộc mạc, giản dị và giàu tính chân thực của Phùng Quán. Nếu bạn chưa đọc Tuổi thơ dữ dội, hãy thử một lần đọc, chắc chắn sẽ không làm bạn thất vọng, và hơn thế để biết quý trọng cuộc sống hòa bình ngày hôm nay.

Tuổi thơ dữ dội – Phùng Quán

Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan

Tuổi thơ dữ dội – Phùng Quán

Bước đường cùng kể về cuộc đời đầy đau khổ dằng dặc của anh Pha trước Cách mạng tháng Tám. Hồi đó anh khỏe mạnh, trai tráng, có một vợ một con. Với tuổi tác, sức vóc cộng thêm tính cần cù, chăm chỉ thì đời sống gia đình anh cũng không đến nỗi lao đao, vất vả. Nhưng chế độ thực dân nửa phong kiến khiến không chỉ anh Pha mà hàng triệu nông dân như anh rơi vào bước đường cùng.

Tên địa chủ Nghị lại, do cướp bóc của dân mà giàu nứt đố đổ vách. Hắn cấu kết với quan trên để vơ vét, chiếm đoạt của cải. Pha dính vào vụ kiện với Trương Thi – người hàng xóm, để có tiền anh phải vay tiền Nghị lại. Tiền lãi ngày càng lớn, Pha đành phải bán ruộng và gánh hàng xén của vợ. Rồi nạn đói, mưa lũ úng thủy, dân trong vùng mắc dịch tả. Vợ con Pha cũng lần lượt chết vì bệnh dịch.

Nhưng Pha cho đó là do “phù phép”, thế là Pha bị mê tín và phải đóng thêm lệ làng. Cuối cùng vụ gặt đến, Pha trắng tay, Nghị lại gọi Pha đến đòi nợ. Cuối cùng Pha phải bỏ làng ra đi. Tác phẩm phản ánh chân thực sự bóc lột của địa chủ tàn nhẫn, những nỗi áp bức của quan lại tham nhũng, những cái bất công của chế độ thối nát chốn hương thôn, để đi đến bước đường cùng là phá sản.

Số đỏ – Vũ Trọng Phụng

Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan

Vũ Trọng Phụng được mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc Kì, nên những tác phẩm của ông đều phản ánh hiện thực hết sức sâu sắc. Nổi bật là tác phẩm Số đỏ. Từ một tên lang thang, ma cà bông như Xuân tóc đỏ, tóc của hắn vốn do mưa nắng mà thành màu như vậy ngẫu nhiên lại thành cái số mệnh hên, đỏ vô cùng cho hắn. Từ chuyện thành đốc tờ, tiến sĩ cho đến lấy được cô Tuyết tân thời, tố cáo vụ ngoại tình, hi sinh cho nước nhà và được nhận huân chương bắc đẩu bội tinh, anh hùng cứu quốc.

Tác phẩm vô cùng hài hước, giọng văn châm biếm nhẹ nhàng nhưng cũng rất sâu cay, tác giả phê phán lối sống, hành vi vô đạo đức lúc bấy giờ. Trải qua năm tháng, Số đỏ vẫn giữ được giá trị trong thời đại ngày nay, khi vấn đề về cách ứng xử, về đạo đức con người có dấu hiệu đi xuống.

Tắt đèn – Ngô Tất Tố

Số đỏ – Vũ Trọng Phụng

Có thể nói Tắt đèn chính là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố. Tác giả đã thành công trong việc xây dựng nhân vật chị Dậu – một con người tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ. Vì gia đình, chị Dậu sẵn sàng hi sinh tất cả, dù biến cố cuộc đời luôn thường trực nhưng ý chí kiên cường, chị vẫn ngời sáng dưới sự áp bức của xã hội nửa thực dân nửa phong kiến.

Cuộc đời chị được Ngô Tất Tố khắc họa bằng những nét đau thương nhất, cùng cực nhất. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, người đọc khó có thể tìm thấy chút tia sáng nào le lói trong cuộc đời chị, đến tận những trang cuối, cuộc đời chị vẫn chìm trong u tối. Có lẽ sẽ chẳng ai quên được cảnh chị bán đàn chó rồi phải rứt ruột bán cả đứa con mình đẻ ra chỉ vì cuộc sống quá túng quẫn. Tác giả đã lột tả được tất cả mọi điều bằng câu văn cảm động, nhưng không kém phần gai góc. Tác phẩm Tắt đèn đã biểu đạt được những ý nghĩa sâu xa của lịch sử, đồng thời nói lên tiếng nói đầy chất nhân văn.

Đăng bởi: Bảo Nguyễn Quốc

Từ khoá: 10 Tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam

10 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm “Ông Già Và Biển Cả” Của Hê

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 10

“Ông già và biển cả” là tác phẩm xuất sắc từng đoạt giải Nobel của nhà văn Hê-minh-uê. Thông qua câu chuyện về hành trình săn đuổi và chịnh phục con cá kiếm, nhà văn đã gửi gắm rất nhiều những thông điệp, quan niệm sâu sắc về con người và cuộc đời thông qua nguyên lí tảng băng trôi.

Xuyên suốt tác phẩm là cuộc rượt bắt đầy quyết liệt của ông lão đánh cá và con cá kiếm khổng lồ, tuy nhiên với tài năng và trí tuệ của bậc thầy văn học, nhà văn Hê-minh-uê không chỉ dừng lại ở những hình ảnh, ý nghĩa tự nhiên của sự việc mà mỗi hình ảnh, sự vật đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Và cũng có lẽ đây là lí do vì sao tác phẩm được đánh giá cao và nhận được nhiều tình cảm của độc giả đến vậy.

Ông lão Santiago là một trong những nhân vật chính trong cuộc rượt bắt, chinh phục con cá kiếm. Ngay cách đặt tên cho nhân vật của hê-minh-uê cũng đã gợi cho chúng ta những liên tưởng thú ị. Sant có nghĩa là ông thánh. Tên gọi này gợi liên tưởng đến chúa Giê-su, đặc biệt hình ảnh  của ông lão Santiago cuối tác phẩm với tay chân trầy xước, rướm máu, lúc thuyền về đến bờ ông đã lặng lẽ tháo cột buồm nặng nhọc vác trên vai. Hình ảnh mệt mỏi nhưng hết sức đẹp đẽ này có những nét tương đồng với hình ảnh của chúa Giê-su trên cây thánh giá.

Ông lão Santiago không chỉ là một người đánh bắt giỏi, một người luôn nỗ lực cố gắng với những mục tiêu cao cả mà ông còn là biểu tượng của một con người phi thường chống lại định mệnh. Ông lão đã lớn tuổi và không ai trong làng chài ngoài cậu bé Mondili tin rằng ông sẽ đánh bắt được một con cá lớn. Trong chuyến ra khơi cuối cùng của mình, bằng kinh nghiệm và nỗ lực phi thường ông đã chứng minh được điều không thể ấy.

Ý nghĩa các biểu tượng trong đoạn trích Ông già và biển cả của Hê-minh-uêCon cá kiếm khổng lồ trong tác phẩm là thành quả của ông lão Santiago sau nhiều ngày rượt đuổi, chinh phục nhưng đó cũng là biểu tượng cho những khó khăn, thử thách của tự nhiên đối với giới hạn chịu đựng của con người. Chiến thắng con cá kiếm khổng lồ đã khẳng định được sức mạnh, trí tuệ cũng như lí tưởng của con người trong hành trình chinh phục tự nhiên, cải tạo thế giới. Con cá kiếm còn là biểu tượng của cái đẹp, cái đẹp đến từ tự nhiên.

Đàn cá mập trong tác phẩm là những kẻ “cơ hội” đã cướp đi thành quả của ông lão đánh cá để khi về đến bờ con cá kiếm khổng lồ chỉ còn lại bộ xương trắng. Hình ảnh đàn cá mập gợi cho chúng ta những liên tưởng về khó khăn, thách thức cản trở con người trên con đường thực hiện những khát vọng, lí tưởng.

Nó là biểu tượng của những cái xấu xa, tồi tệ đáng lên án, đặt tác phẩm trong hoàn cảnh sáng tác của nó ta còn thấy được hình ảnh của bọn tư sản qua biểu tượng đàn cá mập, đó là những kẻ có sức mạnh và quyền lực và chúng dùng sức mạnh ấy để bóc lột của cải, thành quả lao động của người lao động nghèo một cách vô lí.

Hình ảnh biển lớn lại là hình ảnh biểu tượng của thiên nhiên rộng lớn, đó là nơi con người có thể vùng vẫy, đón  đợi những cơ hội nhưng cũng chứa đựng đầy những thách thức. Biển là mẹ của thiên nhiên lì vĩ, nơi chứa đựng những khát vọng lớn lao của con người.

Như vậy, mỗi hình ảnh, nhân vật xuất hiện trong tác phẩm đều vượt qua ý nghĩa bề mặt của nó mà ẩn chứa những ý nghĩa lớn lao về cuộc đời và con người.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 10

Ơ-nít Hê-minh-uê (1899 – 1961) là một nhà văn nổi tiếng người Mĩ. Trong những tác phẩm của ông, người đọc không thể không nhắc đến “ông già và biển cả”, tác phẩm không những thành công ở mặt nội dung mà còn cả phương diện nghệ thuật.

Bối cảnh của truyện là ngôi làng chài yên ả gần bến cảng La-ha-ba-na. Nhân vật chính là ông lão ngư phủ Xan-ti-a-gô với mơ ước cháy bỏng là sẽ đánh bắt được một con cá lớn nhất trong đời. Một mình trên con thuyền nhỏ bé ra khơi, ông lão quyết lập chiến công. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đầy vất vả, hiểm nguy, cuối cùng ông lão đã đánh bắt dược một con cá kiếm khổng lồ, buộc nó cặp mạn thuyền rồi dong vào bờ.

Nhưng con cá kiếm đã bị đàn cá mập tấn công, ông lão dùng hết sức lực để chống chọi với lũ cá mập hung dữ. Khi đuổi được lũ cá mập ra xa thì con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương, ông lão buồn bã trở về túp lều của mình, nhưng trong lòng ông vẫn chưa tắt những ước mơ tốt đẹp.

Nghệ thuật của truyện trước hết phải kể đến việc xây dựng nhân vật. Ông già Xantiago là một ông già đánh cá người Cu ba đã 74 tuổi. Thế nhưng, Xan-ti-a-gô hiện lên không bởi những vẻ đẹp bên ngoài nhưng hơn hết lão hiện lên bởi những nét về mặt tâm lý.

Hê-minh-uê không xây dựng hình tượng lão đánh cá bằng số lượng ngôn từ của mình nhưng bằng các mảnh rời rạc của nhân vật, là những cuộc nói chuyện ngắn với chú bé Manolin, với con gái và nhất là cuộc hiến với chú cá kiến và đàn cá mập. Chỉ một vài nét sơ sài, chủ yếu thông qua những hồi ức, những giấc mơ và chính yếu nhất là những lời độc thoại nội tâm, nhân vật tự nhiên xuất hiện với đầy đủ dáng vẻ, tính cách, cuộc đời và tài năng.

Xan-ti-a-gô hiện lên là một ông già với bàn tay nứt nẻ vì dây câu, chỉ có một người bạn duy nhất là chú bé Manolin hằng ngày thường nói chuyện với nhau bằng những câu nói vờ vĩnh, với những giấc mơ trong đó chỉ có những chiếc thuyền lớn, những chú sư tử trên bãi biển châu Phi, với một quyết tâm sắt đá giết cho bằng được con cá Kiếm và đàn cá mập.

Tác giả không cần lời lẽ để giới thiệu chi tiết, người đọc cũng thấy được cả một quãng đời và thừa hiểu đấy là một con người như thế nào. Tuy có sự xuất hiện của chú bé Manolin và một vài người khác nhưng nhân vật duy nhất được nhà văn quan tâm là lão đánh cá Xan-ti-a-gô.

Hê-minh-uê tập trung đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật bằng cách xây dựng những màn độc thoại nội tâm độc đáo, ngắn gọn mà chứa đựng nhiều suy nghĩ, một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, đa dạng của tác giả. Lão nói với con cá: “Cá ơi, mày không biết mệt thì quả mày là tay khác thường đấy”, “Cá ơi đằng nào rồi mày cũng phải chết mà thôi. Mày cũng muốn tao chết theo mày hả sao?”.

Lão nói với bàn tay trái đang tê bại của mình: “Nào tay ơi, bây giờ mày ra sao rồi. Hay vẫn còn đang chưa hoàn hồn hả mày?. Có thể xem tất cả bề dày, chiều sâu của nhân vật đã được gợi lên qua hình thức độc thoại nội tâm.  Hê-minh-uê để cho nhân vật của mình tự bộc lộ tính cách, tư tưởng của bản thân.

Ngôn từ trong tác phẩm được kết hợp nhuần nhuyễn giữa đối thoại với độc thoại nội tâm, giữa lời kể với văn miêu tả cảnh vật. Khuất sâu dưới những trang viết, chúng ta bất chợt tìm thấy mình đâu đó trong những triết lý rất đỗi bình thường của cuộc sống. Nhiều trang viết ẩn chứa một phong cách độc đáo, giàu triết lý và chất thơ, gợi cho người đọc những liên tưởng đến những vấn đề lớn tồn tại trong xã hội.  Điểm nổi bật là sự xuất hiện của một nhân vật chính duy nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Bản thân nó toát lên một phong cách cũng như giọng điệu linh hoạt và vững vàng kết hợp với nghệ thuật “tảng băng trôi” tạo nên hấp lực và truyền cảm rất lớn.

Với lối kể chuyện độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn kể và lời văn miêu tả nhân vật, miêu tả đối thoại, độc thoại nội tâm, khắc hoạ thành công chân dung nhân vật qua cảm giác, sử dụng ngôn ngữ kể và ngôn ngữ của nhân vật để khắc hoạ điều này.

Tác phẩm ông già và biển cả đã thể hiện tình cảm yêu mến, khâm phục của nhà văn đối với những con người lao động nghèo khổ. Trong cuộc đấu tranh vật lộn mưu sinh hay để lập chiến công, con người có thể chấp nhận cái chết, nhưng không bao giờ chấp nhận lùi bước.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 8

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 9

Anh yêu mùa thu hơn tất cả

Những chiếc lá nhuộm vàng những cây bông vải

Những chiếc lá trôi theo những dòng cá hồi

Và ở phía trên những ngọn đồi

Những khoảng trời cao xanh lặng gió

Giờ đây anh sẽ mãi mãi là một phần của chúng.

Những vần thơ của Gene Van Guilder đã gợi nhắc trong lòng người đọc về một nhà văn Mĩ nổi tiếng mà cho đến nay văn phong của ông vẫn còn có ảnh hưởng rất lớn tới văn học Mĩ, đó là nhà văn Hê-minh-uê. Khi nói về văn học Mĩ thế kỉ XX, chúng ta không thể không nói đến Hê- minh-uê (1899 – 1961) và những tác phẩm của ông, ông đã để lại cho đời những tác phẩm văn học có giá trị.

Hê-minh-uê được giải thường Nô-ben về văn học năm 1954. Trong gần 40 năm cầm bút của mình, Hê-minh-uê đã đi nhiều, Sống ở nhiều nơi và đã cống hiến hết mình cho hoạt động văn học. Thế giới truyện ngắn Hê-minh-uê đầy ắp những dấu tích của sự thâm nhập trực tiếp của ông ở nhiều phía cuộc sống.

Đặc biệt, vốn là phóng viên từng tham gia hai cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, Hê-minh-uê để lại dấu ấn sâu sắc ở mảng đề tài: những cuộc săn bắt thú. Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Ông già và biển cả, v.v… là những tác phẩm của Hê-minh-uê được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Ông già và biển cả là một truyện vừa, kể lại chuyện ông chài Xan-chi-a-gô, là một ông già đánh cá ở vùng nhiệt lưu. Đã ba ngày hai đêm ông ra khơi đánh cá. Khung cảnh trời biển mênh mông chỉ một mình ông lão. Khi trò chuyện với mây nước, khi đuổi theo con cá lớn, khi đương đầu với đàn cá mập xông vào xâu xé con cá. Cuối cùng kiệt sức vào đến bờ con cá kiếm chỉ còn trơ lại bộ xương.

Câu chuyện đã mở ra nhiều tầng ý nghĩa. Một cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời, hành trình nhọc nhằn dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô hình, thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo rồi trình bày nó trước mắt người đời. Đoạn trích có hai cảnh:

1. Cảnh con cá kiếm bị mắc câu vùng quấy cố thoát trước khi bị phóng lao chết;

2. Cảnh lão chài dong thuyền đưa cá về đến.

Với phân cảnh thứ nhất, hình tượng ông lão và con cá kiếm được dựng lại rất khéo léo và chân thực trong một tình huống đối đầu căng thẳng, quyết liệt. Bước sang ngày thứ ba, khi mặt trời đang mọc thì con cá kiếm mắc câu đang lượn vòng vùng vẫy. Trước cái chết, con cá lượn vòng, làm căng sợi dây câu; con cá “quay tròn” tạo nên những “vòng tròn rất lớn”.

Những vòng lượn được nhà văn nhắc lại rất nhiều lần gợi ra được vẻ đẹp hùng dũng, ngoan cường của con cá trong cuộc chiến đấu ấy. Xan-chi-a-gô phải “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết lực của cả cơ thể, của chân trụ ra mà kéo”. Có lúc lão “phải dốc sức ra mà níu”, quyết “khuất phục” con mồi. Hai giờ sau, khi con cá “chậm rãi lượn vòng”, các vòng tròn lượn của nó “đã hẹp hơn nhiều”, con cá đang ngồi dần lên trong lúc bơi, thì lão chài mồ hôi ướt đẫm… mệt thấu xương.

Mọi cái giá của lao động đối với người câu cá trên biển cả, lúc này, lão chài mới thật thấm thía: hoa mắt, mồ hôi như xát muối vào mắt và trán, chóng mặt, choáng váng… “khiến lão sợ”. Lão muốn đọc một trăm lần kinh lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ để cầu mong “Chúa giúp… chịu đựng”. Khi con cá “quật đột ngột làm cho sợi dây nẩy mạnh, hình như nó đau quá “cuồng lên”, lão chài bèn vốc ít nước biển vỗ lên đầu mình, rồi tì gối vào mũi thuyền, quàng sợi dây lên lưng, lão tự nhủ mình đứng dậy chiến đấu”.

Biển dậy sóng, gió mậu dịch nổi lên. Con cá lượn vòng, lúc ở mũi thuyền, lúc ở đuôi thuyền, mãi đến vòng thứ ba, lần đầu tiên lão nhìn thấy con cá. Thoạt tiên thấy “một cái bóng đến”,… lão thắc mắc hỏi: “Nó không thể lớn như thế được”. Nhưng khi con cá trồi lên, lão ngạc nhiên thấy: “Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên ruột đại dương xanh thẫm. Khi nó lặn xuống còn mấp mé mặt nước, ông chài chăm chú nhìn “thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xoè rộng”.

Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Cầc chi tiết nghệ thuật được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Cuộc đấu giữa người với cá cứ diễn ra giằng co mãi. Cá mỗi lúc một đuối sức dần, nhưng vẫn cố vùng vẫy. Lão chài “toát mồ hôi đầm đìa”, tự động viên mình: “Hãy bình tĩnh và giữ sức, lão già ạ”. Nhìn thấy lưng con cá đã nhô lên, nhìn thấy cái đuôi đồ sộ cử động, con cá khẽ nghiêng mình”, lão vừa ra sức kéo con cá vào gần thuyền vừa nói: “Ta đã di chuyển được nó…

Ta đã di chuyện được nó rồi. Một mình giữa biển cá mênh mông, như muốn xua đi nỗi cô đơn, lão “tâm sự với tay, với chân, với đầu của mình: “Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật được nó”. Dõi theo mạch trần thuật trên, ta thấy diễn biến của trận đánh rất gay cấn, được tính theo từng vòng lượn của con cá và tính theo cả chút sức lực ít ỏi còn lại, dần hao mòn của ông lão.

Tuy vậy, con cá kiếm không chỉ là “đối tượng” săn bắt, không chỉ là “đối thủ” giằng co, mà còn là “bạn”, là “người anh em” đối với lão chài. Trước lúc phóng lao, khi miệng “khô khốc”, mệt nhoài, khi đã “đuối sức”, lão nói với con cá kiếm bằng tất cả tâm tình: “Mày đang giết tao, cá à… Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai…”.

Cái gì đến thì nhất định sẽ đến. Con cá kiếm mỗi giờ một đuối sức dần. Lúc thì nó “rướn thẳng mình, lúc thì nó “chầm chậm bơi xa”, cái đuôi đồ sộ “lắc lư trong: không trung”, lúc thì nó “bơi nghiêng”, mõm gần chạm tới mạn thuyền trong “cơn hấp hối”. Lão chài buông sợi dây xuống, giậm chân giả, nhấc cao ngọn lao, vận hết sức bình sinh phóng lao xuống sườn con cá, ngay sau cái ngực đồ sộ của nó.

Con cá kiếm bị trúng lao “rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão và con thuyền”. Đôi tay lão chài xây xát; còn con cá “nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời”. Biển đổi màu “bởi máu đỏ loang từ tim cá”, làn máu đen sẫm loang ra trong làn nước biếc sâu hơn ngàn thước, tựa đám mây. Trên mặt biển, “con cá trắng bạc và thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng”.

Thành quả lao động đã nằm trong tay, trận đấu đã kết thúc, khi mặt trời đã xế trưa. Khát, đói và mệt rã rời, lão chài phải lấy dây và thòng lọng buộc cá vào cái mẩu đằng mũi thuyền, chuẩn bị dựng cột, dong thuyền trở về. Lão say sưa ngắm con cá kiếm. “Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tím nhạt… còn mắt nó dung dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị Thánh trong đám rước”.

Cái chết của con cá cũng bộc lộ vẻ đẹp kiêu dũng hiếm thấy. Cả ông lão và con cá đều là kì phùng địch thủ. Họ xứng đáng là đối thủ của nhau. Nhà văn miêu tả vẻ đẹp của con cá cũng là để đề cao vẻ đẹp của con người. Đối tượng chinh phục càng cao cả, đẹp đẽ thì vẻ đẹp của con người đi chinh phục càng được tôn lên. Cuộc chiến đấu gian nan với biết bao thử thách đau đớn đã tôn vinh vẻ đẹp của người lao động: giản dị và ngoan cường thực hiện bằng được ước mơ của mình.

Ở phân cảnh thứ hai, hình ảnh ông lão trong chiến thắng được thể hiện rất rỗ nét. Lúc này, lão chài cảm thấy “khoẻ hơn”, đầu óc “tỉnh táo”. Lão nhìn con cá hơn nửa tấn, nhẩm số tiền bán cá sẽ thu được với giá ba mươi cend một pound. Lão vui sướng tự hào nghĩ “Di Maggio vĩ đại sẽ tự hào về ta hôm nay”. Còn có niềm vui sướng, hạnh phúc nào to lớn hơn niềm vui sướng hạnh phúc của lão chài khi chuẩn bị dong thuyền đưa cá về bến? Đó là cái giá và ý nghĩa của lao động.

Bữa cơm trưa của lão chài giữa biển khơi tuy đơn sơ mà ngon lành. Toàn đồ tươi sống của hương vị biển. Lão chài bắt vội được hơn mười con tôm nhỏ, lão “rứt đầu rồi nhai gọn cả vỏ lẫn đuôi”, uống vài ngụm nước còn lại trong chai, lão cảm thấy thật dễ chịu. Lão nghĩ đến chuyện lấy nước mặn chữa lành đôi tay chảy máu. Nhìn đám mây tích và dải mây tơ, lão dong thuyền êm xuôi về bến trong làn gió nhẹ.

Nghệ thuật miêu tả và tự sự của Hê-minh-uê còn ít nhiều làm chúng ta “bỡ ngỡ” nhất là sự đan cài lời độc thoại nội tâm với lời kể. Qua đoạn trích, hình ảnh lão chài và con cá kiếm khổng lồ đã để lại cho ta nhiều ấn tượng sâu sắc. Ông lão trong đoạn trích là hình ảnh con người suy tư – con người hành động – con người chinh phục – con người chiến thắng. Ông là “Con Người” với tất cả sự tôn vinh dành cho từ này.

Ông đã đem đến cho chúng ta một bài học về lao động. Lao động thật sự là bài ca của lòng kiên nhẫn và tinh thần dũng cảm. Lao động đem đến cho con người bao niềm vui giữa thiên nhiên và biển cả bao la. Chính cái giá của lao động mới làm cho chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa về hạnh phúc do bàn tay sáng tạo và lòng dũng cảm đem lại. Hình ảnh lão chài Xan-chi-a-gô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dừ” này cho độc giả những bài học lớn về sức mạnh, khí phách và niềm tin trong lao động cũng như trong cuộc sống.

Đoạn văn tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của Hê-minh-uê: luôn đặt, con người đơn độc trước thử thách. Con người phải vượt qua thử thách, vượt qua giới hạn của chính mình để luôn vươn tới đạt được ước mơ khát vọng của mình. Hai hình tượng ông lão và con cá kiếm đều mang ý nghĩa biểu tượng gợi ra nhiều tầng nghĩa của tác phẩm.

Văn phong của Hê-minh-uê giản dị, trong sáng, chất liệu sống ngồn ngộn, độc thoại nội tâm, tình huống biến hóa, căng thẳng, đa nghĩa và đa thanh, ẩn chứa nhiều triết lí sâu sắc về thế giới tự nhiên và con người. Có thể nói tác phẩm Ông già và biển cả mang vẻ đẹp nhân văn, là bản anh hùng ca ca ngợi con người và sức lao động của con người.

Tác phẩm Ông già và biển cả với văn phong độc đáo, bút pháp độc thoại đỉnh cao với lối viết theo nguyên lí “tảng băng trôi”, tác giả đã xây dựng được một thế giới nhân vật tuy không nhiều nhưng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc, và đầy tính nhân văn.

Tác phẩm cũng mở ra nhiều hướng tiếp cận mới do nó để lại nhiều “khoảng trống”, “vùng lặng” trong cấu trúc văn bản. Với tác phẩm này Hê-minh-uê đã khai thác nhiều vấn đề lớn lao về chân lí cuộc sống, giá trị làm người, gieo niềm tin và sức mạnh chiến thắng và “ươm” những hạt mầm mang tên hi vọng vào lòng bạn đọc. Có lẽ bởi vậy mà hơn nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng tác phẩm vẫn là một “tảng băng trôi” mà người đọc luôn say mê và muốn khám phá!.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 7

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 8

Hê-minh-uê (1899-1961) là nhà văn Mỹ, được giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1954. Vốn là phóng viên từng tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, Hê-minh-uê để lại dấu ấn sâu sắc trên mảng đề tài: những cuộc săn bắt thú. Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Ông già và biển cả,v.v… là những tác phẩm của Hê-minh-uê được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

“Ông già và biển cả” là một truyện vừa kể lại chuyện ông chài Xan-chi-a-gô trong một chuyến ra khơi may mắn đã đánh bắt được một con cá kiếm khổng lồ. Khi thuyền đưa cá về bến thì bị đàn cá mập đuổi theo; lão đã dùng mái chèo, dùng chày chống trả dữ dội. Thuyền cập bến, lão thiếp đi trong căn lều nhỏ. Du khách xúm quanh con thuyền ngắm nhìn con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương với cái đuôi tuyệt đẹp.

Đoạn trích có hai cảnh: Cảnh con cá kiếm bị mắc câu vùng quẫy cố thoát trước khi bị phóng lao chết; 2, Cảnh lão chài giong thuyền đưa cá về bến. Bước sang ngày thứ ba, khi mặt trời đang mọc thì con cá kiếm mắc câu đang lượn vòng vùng vẫy. Trước cái chết, con cá lượn vòng, làm căng sợi dây câu; con cá “quay tròn” tạo nên những “vòng tròn rất lớn”. Xan-chi-a-gô phải “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết lực của cả cơ thể, của chân trụ ra mà kéo”.

Có lúc lão “phải dốc sức ra mà níu”, quyết “khuất phục” con mồi. Hai giờ sau, khi con cá “chậm rãi lượn vòng”, các vòng tròn lượn của nó “đã hẹp hơn nhiều”, con cá đang ngoi dần lên trong lúc bơi, thì lão chài “mồ hôi ướt đẫm… mệt thấu xương”. Mọi cái giá của lao động đối với người câu cá trên biển cả, lúc này, lão chài mới thật thấm thía: hoa mắt, mồ hôi xát muối vào mắt và trán, chóng mặt, choáng váng… “khiến lão sợ”. Lão muốn đọc một trăm lần kinh lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ để cầu mong “Chúa giúp… chịu đựng”.

Khi con cá “quật đột ngột” làm cho sợi dây nẩy mạnh, hình như nó đau quá “cuồng lên”, lão chài bèn vốc ít nước biển vỗ lên đầu mình, rồi tì gối vào mũi thuyền, quàng sợi dây lên lưng, lão tự nhủ mình “đứng dậy chiến đấu”. Biển dậy sóng, gió mậu dịch nổi lên. Con cá lượn vòng, lúc ở mũi thuyền, lúc ở đuôi thuyền, mãi đến vòng thứ ba, lần đầu tiên lão nhìn thấy con cá. Thoạt tiên thấy “một cái bóng đen”,… lão thắc mắc hỏi: “Nó không thể lớn như thế được”.

Nhưng khi con cá trồi lên, lão ngạc nhiên thấy: “Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm”. Khi nó lặn xuống còn mấp mé mặt nước, ông chài chăm chú nhìn “thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xoè rộng”.

Cuộc đấu giữa người và cá cứ diễn ra giằng co mãi. Cá mỗi lúc một đuối sức dần, nhưng vẫn cố vùng vẫy. Lão chài “toát mồ hôi đầm đìa”, tự động viên mình: “Hãy bình tĩnh và giữ sức, lão già ạ”. Nhìn thấy lưng con cá đã nhô lên, nhìn thấy cái đuôi đồ sộ cử động, con cá “khẽ nghiêng mình”, lão vừa ra sức kéo con cá vào gần thuyền vừa nói: “Ta đã di chuyển được nó… Ta đã di chuyển được nó rồi”. Một mình giữa biển cả mênh mông, như muốn xua đi nỗi cô đơn, lão “tâm sự” với tay, với đầu của mình: “Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật được nó”.

Con cá kiếm không chỉ là “đối tượng” săn bắt, không chỉ là “đối thủ” giằng co, mà còn là “bạn”, là “người anh em” đối với lão chài. Trước lúc phóng lao, khi miệng “khô khốc”, mệt nhoài, khi đã “đuối sức”, lão nói với con cá kiếm bằng tất cả tâm tình: “Mày đang giết tao, cá à… Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”…

Cái gì đến thì nhất định sẽ đến. Con cá kiếm mỗi giờ một đuối sức dần. Lúc thì nó “rướn thẳng mình”, lúc thì nó “chầm chậm bơi xa”, cái đuôi đồ sộ “lắc lư trong không trung”, lúc thì nó “bơi nghiêng”, mõm gần chạm tới mạn thuyền trong “cơn hấp hối”. Lão chài buông sợi dây xuống, giẫm chân giữ, nhấc cao ngọn lao, vận hết sức bình sinh phóng lao xuống sườn con cá, ngay sau cái ngực đồ sộ của nó.

Con cá kiếm bị trúng lao “rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão và con thuyền”. Đôi tay lão chài “xây xát”; còn con cá “nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời”. Biển đổi màu “bởi máu đỏ loang từ tim cá”, làn máu đen sẫm loang ra trong làn nước biếc sâu hơn ngàn thước, tựa đám mây.Trên mặt biển, “con cá trắng bạc và thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng”.

Thành quả lao động đã nắm trong tay, trận đấu đã kết thúc, khi mặt trời đã xế trưa. Khát, đói và mệt rã rời. Lão chài phải lấy dây và thòng lọng buộc cá vào cái mấu đằng mũi thuyền, chuẩn bị dựng cột, giong thuyền trở về. Lão say sưa ngắm con cá kiếm: “Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tím nhạt… còn mắt nó dửng dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị Thánh trong đám rước”.

Cảnh 2: Giờ đây, lão chài cảm thấy “khoẻ hơn”, đầu óc “tỉnh táo”. Lão nhìn con cá hơn nửa tấn, nhẩm số tiền bán cá sẽ thu được với giá ba mươi cend một pound. Lão vui sướng tự hào nghĩ “Di Maggio vĩ đại sẽ tự hào về ta hôm nay”. Còn có niềm vui sướng, hạnh phúc nào to lớn hơn niềm vui sướng hạnh phúc của lão chài khi chuẩn bị giong thuyền đưa cá về bến? Đó là cái giá và ý nghĩa của lao động.

Bữa cơm trưa của lão chài giữa biển khơi tuy đơn sơ mà ngon lành. Toàn đồ tươi sống của hương vị biển. Lão chài bắt vội được hơn mười con tôm nhỏ, lão “rứt đầu rồi nhai gọn cả vỏ lẫn đuôi”. Uống vài ngụm nước còn lại trong chai, lão cảm thấy thật dễ chịu. Lão nghĩ đến chuyện lấy nước mặn chữa lành đôi tay chảy máu. Nhìn đám mây tích và dải mây tơ, lão dong thuyền êm xuôi về bến trong làn gió nhẹ.

Nghệ thuật miêu tả và tự sự của Hê-minh-uê còn ít nhiều làm chúng ta “bỡ ngỡ” nhất là sự đan cài lời độc thoại, độc thoại nội tâm với lời kể. Qua đoạn trích, hình ảnh lão chài và con cá kiếm khổng lồ đã để lại cho ta nhiều ấn tượng sâu sắc. Lao động thật sự là bài ca của lòng kiên nhẫn và tinh thần dũng cảm. Lao động đem đến cho con người bao niềm vui giữa thiên nhiên và biển cả bao la. Chính cái giá của lao động mới làm cho chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa về hạnh phúc mà do bàn tay sáng tạo và lòng dũng cảm đem lại.

Các nhà lí luận thường nói đến “tảng băng trôi” – ý nghĩa hàm ẩn trong tác phẩm của Hê-minh-uê. “Ông già và biển cả” đem đến vinh dự giải thưởng Pu-lit-ze (1953) cho tác giả, nó là một ẩn dụ ca ngợi sức mạnh và lòng dũng cảm của con người trong lao động và khám phá thiên nhiên. Nó đã khơi dậy trong lòng mỗi chúng ta bao ý nghĩ tốt đẹp về con người và lao động, về con người và thiên nhiên.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 7

Ơ-nít Hê-minh-uê (1899 – 1961) sỉnh tại bang l-li-noi nước Mĩ, trong một gia đình trí thức. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất ở chiến trường l-ta-li-a với tư cách phóng viên mặt trận. Sau đó, ông sang Pháp vừa làm báo vừa bắt đầu sáng tác.

Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX. ông là người khai sinh ra nguyên lí sáng tác: coi tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi, người đọc tự khám phá phần chìm để thấy được ý nghĩa và giá trị đích thực của tác phẩm, ông vinh dự được nhận Giải Pu-lit-dơ (1953) – giải thưởng văn chương cao quý nhất của Hoa Kì và Giải thưởng Nô-ben về văn học (1954). Hê-minh-uê đã để lại một khối lượng tác phẩm đổ sộ gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, hồi kí, ghi chép…

Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm Ông già và biển cả. Đây là cuốn tiểu thuyết tuy chỉ có tầm cỡ của một truyện vừa nhưng lại là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê bởi nó đã chứa dựng thông điệp quan trọng được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn : Con người được sinh ra không phải để dành cho thất bại. Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại.

Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô đơn độc, quật cường đã chiến thắng con cá kiếm khổng lồ bằng ý chí phi thường và kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê ca ngợi phẩm chất đáng quý của con người lao động. Ông già và biển cả được đánh giá là bài ca ca ngợi con người. Đây là tác phẩm hay nhất, nhiều ý nghĩa nhất, vì thế nôn đọc bất cứ đoạn nào chúng ta cũng thấy sự thể hiện sinh động của nguyên lí tảng băng trôi trong sảng tác của Hô-minh-uê.Bố cục đoạn trích gồm hai phần:

Phần 1 : Từ đầu đến… Con cá trắng bạc, thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng : Miêu tả cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô.Phần 2 : Còn lại : Miêu tả hành trình trở về của ông lão. Đoạn trích kể về việc sau khi con cá kiếm mắc câu, ông lão Xan-ti-a-gô đã vật lộn với nó gần hai ngày đêm, sức lực cạn kiệt nhưng ông lão vẫn quyết tâm giết bằng được nó. Cuộc chiến để thu hồi thành quả lao động của ông lão Xan-ti-a-gô quả là vất vả và khó nhọc.

Nhà văn miêu tả con cá kiếm như một “nhân vật đặc biệt” với những nét khác thường. Ở đầu đoạn trích, con cá chưa xuất hiện ngay mà chỉ tạo ấn tượng bằng những vòng lượn tròn rất lớn. Nhà văn có dụng ý để ông lão cảm nhận gián tiếp về con cá qua những vòng lượn của nó. Từ lúc mắc câu, con cá kiếm không nổi lên mặt nước mà cứ kéo sợi dây câu bơi ra xa.

Sau đêm thứ hai, khi đã kéo chiếc thuyền của ông lão đi khắp các hướng thì con cá bắt đầu lượn vòng. Những vòng lượn gợi lên từng thời điểm và mức độ căng thẳng của cuộc đấu sức giữa ông lão và con cá kiếm. Lần thứ nhất, con cá còn khỏe nên nó lượn một vòng tròn rất lớn. Hai giờ sau, các vòng tròn hẹp hơn.

Đến lần thứ hai, sau khi quật mạnh sợi dây vài lần, con cá không quật dây đáy nữa mà bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm, tức là nó đã dần dần đuối sức. Hai lần đầu, ông lão phán đoán độ lớn của con cá nhờ cảm giác từ đôi tay đang níu giữ sợi dây. Những vòng lượn tiếp theo, con cá đã nhô mình lên khỏi mặt nước và ông lão lần đầu tiên thấy con cá.

Xảy ra đồng thời với những vòng lượn để thoát khỏi lưỡi câu của con cá kiếm là hành động dùng hết sức níu sợi dây để kéo con cá vào gần thuyền của ông lão. Cứ mỗi lần con cá lượn vòng là mỗi lần ông lão phải gắng sức, đến nỗi cảm thấy choáng váng. Sau mỗi lần như thế, ông lão lại tự nhủ : Hãy cố lên chút nữa, hãy giữ đầu óc tỉnh táo! Những chi tiết này cứ lặp đi lặp tại cho đến khi ông lão phóng ngọn lao vào trúng tim con cá.

Kiểu kết cấu trên nhằm đặc tả sức mạnh và sự khôn ngoan của con cá kiếm và cho thấy mức độ gay go, quyết liệt của cuộc chiến giữa ông lão Xan-ti-a-gô với con cá kiếm. Vòng lượn của con cá càng nhiều và thay đổi liên tục chứng tỏ nó khôn ngoan, dũng cảm, kiên cường chống đỡ không kém gì đối thủ. Con cá cố gắng thoát khỏi sự níu kéo quyết liệt của lão ngư phủ. Cả hai bên đều đã kiệt sức nhưng đều cố giành phần thắng về mình.

Sự lặp lại những vòng lượn của con cá kiếm còn gợi lên hình ảnh một ngư phủ từng trải và lành nghề. Chỉ bằng mắt nhìn và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông lão đã ước lượng được độ lớn của con cá qua những vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần. Xan-ti-a-gô đã khéo léo điểu khiển sợi dây vì nếu để chùng dây thì không thể kéo con cá lại gần, còn nếu căng dây quá thì con cá sẽ nhảy vọt lên, có thể làm tuột lưỡi câu. Lúc đầu, ông lão thu ngắn dây để con cá không thể quay vòng : Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng.

Diễn biến cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô được tác giả miêu tả như một trận chiến đấu thực sự. Suốt hai giờ đồng hổ, ông lão mệt nhoài, người đẫm mồ hôi vì cứ phải ra sức kéo sợi dây để cho con cá khỏi quay vòng. Sức lực của ông lão suy kiệt nhanh chóng, ông lão thấy hoa mắt…, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán. Ông lão tự nhủ : Chúa sẽ giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể đọc.

Đến vòng lượn thứ ba, khi đã thấm mệt, con cá không quật dây nữa và bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm… Rồi ông lão nhìn thấy : Cài đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tỉa trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng.

Ông lão phân tích tình hình, tìm mọi cách kéo con cá lại gần thuyền và tự động viên : Hãy bình, tĩnh và giữ sức, lão già ạ. Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Hãy tỉnh táo vì tao, đầu à… Nhưng đó cũng là lúc sức cùng lực kiệt : Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, hoặc nếu có thì cũng bằng giọng thì thảo, yếu ớt.

Khi ông lão chuẩn bị phóng mũi lao vào con cá, như trêu ngươi, nó rướn thẳng mình, lại chầm chậm bơi xa, cái đuôi đồ sộ lắc lư trong không trung. Thời điểm quyết định đã tới: ông lão nhấc cao ngọn lao hết mức, vận hết sức bình sinh… phóng xuống sườn con cá ngay sau cái vây ngực đồ sộ, vươn cao trong không trung ngang ngực ông lão… Con cá phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền. Thoáng chốc nó rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền.

Cách kể chuyện và miêu tả hấp dẫn của tác giả giúp người đọc hình dung ra diễn biến trận đánh càng về sau càng gay go, căng thẳng. Sức lực của ông lão cứ yếu dần đi theo từng vòng lượn của con cá kiếm. Trong tình huống đơn độc và gay cấn, ông lão biết rằng tốt hơn cả là tự cứu mình. Vì thế nên ông lão củng cố tinh thần và sức chịu đựng để tồn tại và chiến thắng, luôn luôn tự nhủ : Hãy giữ cho đầu óc tĩnh táo và biết cách chịu đựng như một con người.

Ý chí, nghị lực của ông lão Xan-ti-a-gô còn thể hiện ở quyết tâm bắt bằng được con cá. Sức lực cạn kiệt nhưng lão vẫn cố gượng dậy để tiếp tục chiến đấu : Lão cảm thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, lão cảm thấy choáng váng, đau đớn…

Ông lão phán đoán, phân tích tình thế rồi đưa ra giải pháp hành động hợp lí, chính xác, đồng thời kiên trì chịu đựng và tin rằng mình sẽ giết được con cá: Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó… Tao sẽ tóm mày ở đường lượn… Ta đã di chuyển được nó.

Sức mạnh mà Tạo hóa ban tặng cho con cá kiếm là để nó chiến đấu giành lại sự sống từ bàn tay con người. Sức lực của ông lão Xan-ti-a-gô là sức lực của con người. Ý chí, trí tuệ và kinh nghiệm đã giúp lão khắc phục hoàn cảnh, tuổi tác để cuối cùng giành được chiến thắng, ông lão thú vị rút ra bài học: Ta chỉ thạo hơn cu cậu ở mỗi cái trò mánh lới.

Thái độ đối với con cá kiếm phản ánh diễn biến phức tạp trong tâm trạng ông lão lúc này. Ông lão vừa yêu quý, khâm phục con cá vừa quyết tâm phải hạ gục nó. Lão thân mật gọi nó là người anh em và chân thành bày tỏ : Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ.

Nguyên do là vì Xan-ti-a-gô suốt đời làm nghề đánh cá mà đã lâu không bắt được con cá nào, có nghĩa là ông lão không còn tồn tại với tư cách của một ngư phủ. Ông lão đặt ra cho mình nhiệm vụ là bằng mọi giá phải bắt được con cá kiếm. Trong cuộc săn đuổi đó, con cá kiếm đã bộc lộ phẩm chất cao quý như một con người chân chính. Nó không lồng lên làm đắm thuyền, không lặn sâu xuống bứt đứt dây câu mà chấp nhận cuộc đấu tay đôi một cách sòng phẳng. Nó mải miết kéo chiếc thuyền của ông lão ra khơi xa.

Những lời trò chuyện với con cá kiếm và độc thoại nội tâm cho thấy ông lão có cảm nhận rất khác lạ về con cá mà mình đang săn đuổi. Con cá kiếm khổng lồ vừa là đối tượng chinh phục vừa là bằng hữu của ông lão. Điều đó cho thấy hành trình tìm kiếm ước mơ của con người là vô cùng vất vả và hành trình thực hiện ước mơ lại càng gian nan hơn, đòi hỏi con người phải tập trung trí lực cao độ.

Hình ảnh con cá kiếm ở phần nổi là thành quả của nhiều ngày lao động vất vả trên biển của ông lão Xan-ti-a-gô. Ở phần chìm, nó tượng trưng cho ước mơ, khát vọng lớn lao của con người, là vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên. Trong quan hệ với con người, thiên nhiên vừa là bạn bè vừa là đối thủ.

Hình ảnh con cá kiếm khổng lồ trong tác phẩm được tác giả miêu tả từ xa tới gần, từ bộ phận tới toàn thể thông qua cảm nhận từ gián tiếp đến trực tiếp của ông lão Xan-ti-a-gô. Lúc đầu, ông lão chỉ thấy cái bóng đen dài vượt qua dưới con thuyền và cảm nhận rằng nó dài đến mức không thể tin nổi. Sau đó, ông lão nhìn thấy cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm. Sau vòng lượn thứ ba, ông lão đã ngạc nhiên đến bàng hoàng khi nhìn thấy tận mắt hình dáng tuyệt đẹp và độ lớn chưa từng có của con cá kiếm.

Con cá kiếm có một vẻ đẹp kiêu hùng, kì vĩ. Lúc bị ngọn lao của ông lão phóng trúng tim, con cá kiếm vẫn đẹp một vẻ đẹp tuyệt vời: Khi ấy con cá mang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền.

Sau khi ông lão đã buộc nó cặp mạn thuyền để đưa vào bờ thì: Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tía nhạt như đuôi nó. Những đường sọc ấy lớn hơn cả bàn tay người xòe rộng còn mắt nó trông dửng dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như vị thánh trong đám rước. Vẻ đẹp sống động không còn nữa mà thay vào đó là sắc màu nhợt nhạt của một sinh vật đã bị tước đoạt sự sống.

Sự khác biệt đó hàm chứa một ý nghĩa sâu xa: Con cá kiếm không chỉ là một con cá do ông lão săn được mà là hình ảnh của ước mơ, lí tưởng mỗi con người theo đuổi trong suốt cuộc đời. Sự khác biệt đó còn gợi cho người đọc suy nghĩ: Phải chăng đó là khoảng cách xa vời giữa ước mơ và hiện thực. Khi ước mơ đã trong tầm tay hoặc đã trở thành hiện thực thì nó không còn giữ được vẻ đẹp đẽ, huy hoàng như trước nữa.

Hình ảnh con cá kiếm còn tượng trưng cho khát vọng nghệ thuật và quá trình sáng tạo của nhà văn. Sự xuất hiện lần đầu của con cá kiếm ám chỉ cơ hội cho nhà văn khám phá cuộc sống. Hành trình theo đuổi con cá của ông lão Xan-ti-a-gô cũng là hành trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Con cá kiếm vừa xuất hiện cũng giống như tác phẩm mới hình thành ở ý đồ sáng tác, nhà văn chỉ mới cảm nhận được ý nghĩa tiềm ẩn của nó.

Đến khi tác phẩm đã hoàn thành thì nó phô ra vẻ đẹp để mọi người có thể nhìn thấy, cũng giống như con cá kiếm lúc phóng vút lên khỏi mặt nước. Đến khi đã có đời sống riêng thì chính tác phẩm đưa tác giả đến bến bờ vinh quang. Con cá kiếm là đối tượng để ông lão chinh phục và chiến thắng, là người anh em để lão so tài và thử sức, là mục đích, lí tưởng mà ông lão hướng đến. Như vậy, khuất phục được đối thủ vừa thể hiện trí tuệ và lòng dũng cảm, niềm kiêu hãnh của con người và là cơ sở để giúp con người đánh giá khả năng chinh phục thiên nhiên.

Đoạn trích trên tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Hê-minh-uê : ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lối kể chuyện thông qua việc sử dụng đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật cùng với những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng. Sự lặp đi, lặp lại những chi tiết theo kiểu kết cấu vòng tròn xoắn trôn ốc giúp người đọc có thể bóc dần từng lớp vỏ ngôn ngữ để khám phá ra ý nghĩa và giá trị thực sự của tác phẩm. Đoạn trích còn cho thấy khả năng quan sát nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú của Hê-minh-uê – nhà văn bậc thầy về tiểu thuyết.

Tác phẩm Ông già và biển cả cũng thể hiện tình cảm yêu mến, khâm phục của nhà văn đối với những con người lao động nghèo khổ. Tác giả muốn chuyển đến người đọc một thông điệp quan trọng : Trong cuộc đấu tranh vật lộn mưu sinh hay để lập chiến công, con người có thể chấp nhận cái chết, nhưng không bao giờ chấp nhận lùi bước. Câu chuyện về ông lão đánh cá già nua, đơn độc nhưng vô cùng dũng cảm đã cổ vũ biết bao người trên thế giới dám dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh vì hạnh phúc của nhân loại.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 5

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 6

Ông già và biển cả là một trong những tác phẩm đặc sác, thể hiện rõ phong cách sáng tác “tảng băng trôi” của nhà văn tài năng người Mĩ Hê-minh-uê. Tác phẩm là câu chuyện giữa ông lão và một con cá kiếm khổ lồ. Đó là một cuộc đọ sức kiên gan và đẹp đẽ, để từ đó thể hiện nhiều ý nghĩa nhân sinh đẹp đẽ.

Đoạn trích gồm hai phân cảnh chính: thứ nhất là khi con cá kiếm bị mắc câu và cố sức vũng vầy để mong thoát khỏi lưỡi câu của ông lão; cảnh thứ hai là khi ông lão đánh cá đưa con thuyền và chiếc xác trở về bến. Tác phẩm được mở ra bằng hình ảnh mặt trời rạng rỡ, ngày thứ ba sau khi con cá kiếm bị mắc câu. Cả hai đối tượng đều không chịu lùi bước. Con cá vẫn lượn vòng , làm căng sợi dây tạo nên “vòng tròn lớn”.

Đáp lại nó, ông lão Xan-ti-a-gô phải “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết sức lực của cả cơ thể, của trụ chân ra mà kéo” nhằm khuất phục con mồi. Sau hai giờ bơi, con cá cũng dẫn đuối sức, đường bơi đã hẹp đi nhiều, con cá dần dần ngoi lên mặt nước, ông lão lúc này cũng đã mệt thấm xương, mô hôi thấm đẫm. Cuộc đấu tranh, giằng co giữa cá và người cứ thế tiếp tục.

Con cá mặc dù càng đuối sức nhưng nõ vẫn cố gắng vùng vẫy, khi thì đột ngột quật lên, làm căng sợi dây mảnh, khi thì nó khẽ nghiêng mình kéo chiếc chiếc thuyền đi. Ông lão cũng kiên quyết không bỏ cuộc, khi nhìn thấy cái bóng đen của con cá dần dần nổi lên, ông kinh ngạc: “cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm” “thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình nó.

Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng” . Con cá khổng lồ và đẹp ngoài sức tưởng tượng của ông. Điều đó càng khiến ông phải bình tĩnh để chinh phục được nó. lão Xan-ti-a-gô phải tự động viên mình “Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật được nó”.

Đối với ông lão lão Xan-ti-a-gô con cá không chỉ đơn thuần là đối tượng để săn bắt mà còn là người bạn, người anh em đối với lão. Trong cuộc chiến đó, ông còn trò chuyện, thủ thỉ với nó: “Mày đang giết tao, cá à… Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người an hem ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Lão Xan-ti-a-gô đã dùng những chữ đẹp đẽ nhất, tình cảm chân thành nhất để tâm tình với con cá.

Cuộc chiến cuối cùng cũng dần đi vào hồi kết, con cá đuối sức hơn, lúc nó rướn hẳn mình, lúc nó lại chầm chậm bơi ra xa. Lão Xan-ti-a-gô vẫn hết sự khéo léo, và sức lực của mình, lấy lao phóng vào cái ngực đồ sộ của nó. Con cá bị trúng lao “rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm cả lên ông lão và con thuyền”. Bằng sự lao động bền bỉ của mình ông lão đã chiến thắng, dù bị xây xát, nhưng con cá đã “nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời” “con cá trắng bạc và thẳng đơ và bồng bềnh theo sau”.

Trận chiến suốt mấy ngày qua cuối cùng đã kết thúc. Đói và mệt rã rời, nhưng trong lòng ông lão cũng tràn đầy phấn chấn. Ông quyết địn lập tức going thuyền trở về. Giờ đây trong cơ thể lão tràn trề nhựa sống, lão thất người khoe hơn lúc náo hết, đầu óc trở nên tình táo, lão lặng ngắm con cá: “da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tím nhạt… còn mắt nó dửng dung như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị Thánh trong đám rước”. Ông lão nhìn con cá bằng sự ngưỡng mộ, tôn sung. Thành quả sau bao nỗ lực đã được đền đáp “Đi Ma-giô vĩ đạu sẽ tự hào về ta hôm nay”.

Tác phẩm sử dụng đan cài giữa ời độc thoại và độc thoại nội tâm giúp dễ dàng bộc lộ tâm trạng của nhân vật. Không chỉ ấn tượng về nghệ thuật kể chuyện, mà tác phẩm còn gây ấn tượng cho người đọc bởi tinh thần lao động, sự kiên nhẫn và dũng cảm của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 5

Hê-minh-uê sinh ra trong một gia đình trí thức. Có thể coi ông là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Mỹ. Ông sáng tác dựa trên nguyên lí tảng băng trôi, ba phần nổi, bảy phần chìm, bởi vậy các tác phẩm của ông rất giàu ý nghĩa biểu tượng. Ông già và biển cả là tác phẩm thể hiện chính xác và đầy đủ nhất phong cách của ông. Tác phẩm ngay từ khi ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong giới văn nghệ sĩ. Đoạn trích được trích ở phần cuối của tác phẩm.

Tác phẩm nổi bật lên với hai hình tượng chính là con cá kiếm và ông già đánh cá. Mỗi hình tượng mang những vẻ đẹp riêng, vừa bổ sung, vừa làm nổi bật vẻ đẹp của đối phương. Trước hết hình tượng con cá kiếm đã được tác giả khắc họa vô cùng lớn và đẹp. Tác giả đã dung hàng loạt câu văn để miêu tả về vẻ đẹp của nó: Một cái bóng đen vượt dài qua dưới con thuyền, không dừng lại ở đó nó còn có một “Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn màu tím hồng dựng trên đại dương xanh thẳm”.

Thân hình của nó đồ sộ và những dọc màu tía trên mình và Cánh vi trên lưng xếp lại, bộ vây to sụ ên sườn xòe rộng. Chỉ với từng ấy câu văn thôi, nhưng Hê-minh-uê đã cho người đọc hình dung đầy đủ về vẻ đẹp của con cá kiếm và đằng sau vẻ đẹp kì vĩ, to lớn ấy chắc chẵn sẽ ẩn chứa những sức mạnh khủng khiếp.

Sau khi mắc vào lưỡi câu của ông lão đánh cá, dù đã bị thương nhưng con cá vẫn có những vòng bơi lớn, liên tục, dường như vết thương đó không hề hấn gì với bề ngoài khổng lồ của nó. Chính những vòng bơi khổng lồ đó khiến cho ông lão hoa mắt, chóng mắt, và choáng váng. Quả thực đây là màn đấu lực không hề cân sức.

Nhưng không dừng lại ở đó, khắc họa hình tượng con cá kiếm tác giả còn cho thấy một vẻ đẹp khác của nó đó chính là vẻ đẹp của sự kiêu hùng và bất khuất. Khi bị ông lão phóng mũi lao trúng tim, bị kết liễu sinh mạng nhưng nó vẫn dùng hết những sức lực cuối cùng để tung người lên. Quả là một cái chết cách oai hùng, mạnh mẽ, kiêu ngạo, đầy khí phách.

Tác giả không chỉ đơn thuần miêu tả con cá kiếm, mà đằng sau những câu văn miêu tả đó cũng chính là cách để tác giả tôn vinh ông lão đánh cá. Tác giả muốn con cá phải là đối thủ ngang sức, ngang tài của ông lão đánh cá, xứng đáng là con ác mà ông lão chờ đợi. Tôn vinh con cá cũng là tôn vinh chiến thắng vinh quang và tầm vóc của con người.

Đúng như nguyên lí tảng băng trôi, xây dựng hình tượng con cá kiếm, Hê-minh-uê cũng gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Trước hết dưới góc nhìn thiên nhiên, con cá kiếm là biểu tượng cho vẻ đẹp và sức mạnh của tự nhiên. Còn dưới góc nhìn từ cuộc sống con người, thì hình tượng con cá kiếm lại chính là biểu tượng cho những thử thách, chông gai trong cuộc đời mà con người cần phải vượt qua. Cuối cùng dưới góc nhìn nghệ thuật, con cá kiếm lại chính là biểu tượng của những mơ ước và sáng tạo.

Nhưng đẹp đẽ nhất, gửi gắm nhiều ý nghĩa nhất chính là hình tượng của ông lão đánh cá. Ông lão đánh cá được đặt trong cuộc chiến không hề cân sức, ông lão đã tuổi cao sức yếu, lại mấy ngày lênh đênh trên biển, đói khát và mệt mỏi. Ông đã bị suy kiệt nghiêm trọng về thể lực. Trong khi đó con cá kiếm lại to lớn, đầy sức mạnh, kiêu hùng bất khuất. Hơn nữa, biển cả là nhà, là thế mạnh thuộc về con cá kiếm. Đặt ông lão ông trong cuộc chiến không cân sức, tác giả nhằm tôn vinh, ngợi ca ông lão với những phẩm chất làm nên chiến thắng.

Trong cuộc chiến không cân sức ấy,những phẩm chất, vẻ đẹp của ông lão đánh cá đã được bộc lộ đầy đủ nhất. Trước hết ông là người thạo nghề, mưu trí và kinh nghiệm. Ông chỉ cần nhìn độ nghiêng, độ chếch của sợi dây có thể biết được con cá đang bơi tròn hay đang liên tục ngoi lê trong lúc bơi. Và ông chỉ cần dựa vào độ căng trùng của sợi dây có thể đoán biết được con cá đang làm gì.

Nếu không phải là người đánh cá lành nghề, chắc chắn ông không thể có những phán đoán chính xác đến vậy. Đặc biệt ông có cách xử lí là kéo vào hay nới ra để con cá dần trở nên kiệt sức mà không bị đau đớn đến phát cuồng lên. Cuối cùng chính là cách ông lựa chọn thời điểm đưa ra đòn quyết định, phóng lao trúng tim con cá một cách dứt khoát, quyết đoán và đầy điêu luyện để chấm dứt cuộc chiến không cân sức này.

Để hạ gục được con cá, không chỉ cần sự điêu luyện, thành thạo mà còn cần cả niềm tin vào chính mình. Trong quá trình chiến đấu với con cá ông liên tục nhắc đi nhắc lại những lời động viên, khuyến khích bản thâ, tin tưởng vào chiến thắng: “tao sẽ tóm được mày”… Và hơn hết ông có ý chí và nghị lực phi thường. Nhiều lúc ông tưởng rằng mình có thể sẽ gục ngã: hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, chóng mặt và choáng váng, có cảm giác đổ sụp xuống bất cứ lúc nào…

Tuy nhiên sức mạnh tinh thần đã nâng đỡ ông lão đánh cá gượng dậy tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng. Chiến thắng của ông đã gửi gắm những bài học ý nghĩa, phải luôn tin tưởng vào bản thân, không ngừng nỗ lực, phấn đấu. Đồng thời qua chiến thắng này, tác giả cũng nhằm khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp và sức mạnh của con người.

Mặc dù chiến thắng con cá kiếm, nhưng ông lão cũng vô cùng thương xót nó, ngợi ca vẻ đẹp anh dũng, hào hùng của nó. Qua những suy nghĩ của ông lão về con cá kiếm tác giả cũng gửi gắm thông điệp: Con người và thiên nhiên có mối quan hệ anh em, dù rằng đôi khi thiên nhiên đột nhiên trở thành kẻ thù số một của con người. Con người dù phải chinh phục tự nhiên nhưng cũng không quên phải yêu mến và sống hài hòa với tự nhiên.

Con người cần biết tôn trọng tự nhiên, cũng như tôn trọng kẻ thù nếu muốn giành chiến thắng. Và thừa nhận vẻ đẹp và những hành động không thể khác của đối thủ, của những người xung quanh mình là thái độ cần thiết để giữ thăng bằng trong cuộc sống, tránh nhìn người, nhìn đời một cách phiến diện và để biết cảm thông, chia sẻ với người khác.

Tác phẩm với tính biểu tượng cao, ngôn ngữ cô đọng hàm súc đã đem đến nhiều thong điệp ý nghĩa. Câu chuyện về ông lão đánh cá không đơn thuần chỉ là câu chuyện của sự mưu sinh mà nó còn là biểu tượng cho vẻ đẹp của ước mơ và biểu tượng cho hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 3

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 4

Những câu chuyện viết về công cuộc chinh phục thiên nhiên của con người đã trở thành một trong những đề tài được đánh giá cao, đó là tâm huyết cho sự tìm tòi, vận dụng trí sáng tạo, tính viễn tưởng trong cách nhìn mới về con người tự do.

Hemingway một nhà văn gốc Mỹ  tầm cỡ của thế kỉ 20, cũng mở rộng tâm hồn, là nhà văn của cái mới, ông lựa chọn đề tài này để khai thác nhiều hơn, ở người không chỉ nổi bật về khả năng của mình trong cách viết truyện, ông còn bảo vệ được quan điểm của mình về nguyên lí “tảng băng trôi” mang đầy triết lí nhân sinh được thể hiện tất cả qua tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng “Ông già và biển cả”.

Đoạn trích nằm trong phần gần cuối của tác phẩm Ông già và biển cả, kể lại về quá trình ông lão hiên ngang giữa biển khơi, công cuộc đánh vật chinh phục con cá khổng lồ đã thành công mĩ mãn. Có thể chia đoạn trích này làm hai phần rõ rệt: Phần một từ đầu đến nước bắn tung tóe lên cả ông lão và con thuyền kể về quá trình chinh phục con cá kiếm khổng lồ và vẻ đẹp tuyệt vời của con vật. Phần hai: đoạn còn lại, kể về ông lão Xan-ti-a-gô đưa con cá trở về sau nhiều ngày trời vật vã trên biển.

Mở đầu một cuộc đi săn, bao giờ cũng là sự thăm dò cẩn thận. Trước bối cảnh thiên nhiên rộng lớn, ông già đánh cá mang trong mình nhiều kinh nghiệm về công việc đi biển, vững chèo con thuyền ra giữa biển khơi, để tìm nguồn cá, nhưng ông khá thất vọng vì chưa được con nào. Bất chợt lọt vào trong tầm mắt ông lúc này là hình ảnh một con cá kiếm, ông như người bắt được vàng, trong thâm tâm luôn muốn bắt được con cá này, như chính ước mơ ấp ủ bao đêm của ông làm được một cái gi to lớn.

Đến với phần đầu ta như bước vào một khung cảnh đầy hùng vĩ giữa mây nước, sau khi đã nhắm được mục tiêu ông lão không vội vàng mà chậm rãi chăm chú quan sát đối phương. Sự quan sát cặn kẽ đến mức như ông lão hiểu được từng vòng lượn của con cá kiếm dưới mặt nước kia, vòng lượn gần đến lượn xa ông đều cảm nhận được. Vòng tròn lớn, sợi dây câu con cá ấy nặng trĩu và xiết tay ông làm ông nhiều lúc muốn buông xuôi.

Ở từng vòng lượn cứ bình tĩnh và chậm rãi, cứ giữ sức, rồi lại vùng vẫy ra xa, đầy hung hăng, thể hiện được sự mãnh liệt trước vấn đề sinh mệnh theo bản năng sinh tồn. Nó luôn nỗ lực không rời bỏ để thoát khỏi sự bắt ép của ông lão, không chịu đầu hàng ông.

Sự hùng vĩ, to lớn, vẻ đẹp của con cá còn được ông miêu tả tỉ mỉ “đây là con cá khổng lồ, đuôi xanh thẫm, thân hình xòe rộng, một con cá khổng lồ mà cả đời ông mơ ước”,” cái đuôi lớn hơn cả cái lưỡi hái lớn”, cả những vạch dọc người của nó. Sự mạnh mẽ của con vật ấy sống giữa tự nhiên, đầy tính oai phong. Con cá ở đây là biểu hiện chân thực đầy sống động của thiên nhiên hùng vĩ trước cái nhìn của ông – một con người nhỏ bé.

Nhưng liệu ông có để mặc cho con cá ấy thắng mình, hay ông cũng bạo gan, dùng sự kiên trì, dùng trí thông minh để thu phục con cá, dùng sức lực của một người đi biển lâu năm kìm hãm, đấu vật sức lực của con cá. Ông đứng trên bờ, đăm đăm quan sát thì câu chuyện đã không có kịch tính, tình huống đáng nói. Một hình ảnh đẹp được tác giả tập trung khai thác, một con người mạnh mẽ ở trên chiếc thuyền kia, một con cá to lớn ở dưới mặt nước, được nối liên hệ với nhau bằng chiếc móc câu.

Cuộc chinh phục tự nhiên cũng được bắt đầu ngay sau mối liên hệ ấy, sau khi con cá mắc câu nó kéo phăng con thuyền đi ra xa đại dương ba ngày hai đêm. Ông đã có những lúc độc thoại với con cá kiếm “đừng nhảy cá”, “cá ơi dẫu sao mày cũng sẽ chết. Mày muốn tao cùng chết nữa à”, “mày đừng giết tao cá à”. Khi nó mệt thì mới lượn vòng dưỡng sức, với ngụ ý luôn không ngơi nghỉ ý nghĩ tìm cách thoát khỏi vòng bủa vây của ông lão.

Sức dẻo dai của con cá cũng đồng nghĩa với con người trên thuyền, phải chăng con người sắp thua con vật to lớn kia, vì đã có lúc nó làm ông “quá mệt mỏi, “hoa mắt”, chóng mặt, choáng váng, xây xẩm mặt mày”. Ông cũng phải dùng kế, để làm gần với con cá, vì cả hai lúc này đều đã thấm mệt. “ông lão cứ thu dây, giữ yên sợi dây rồi lại buông.

Ông cũng nuôi trong mình suy nghĩ thông minh, không hề có ý định bỏ cuộc, chỉ là đợi cho con cá thấm mệt rồi mới bắt đầu hành động quyết liệt hơn. Luôn dùng những suy nghĩ, lối nói độc thoại nội tâm để tự căn dặn bản thân không cho phép mình được bỏ cuộc.

Khi thời cơ cảm tưởng đã đến lúc, ông đi áp sát con cá, nghĩ rằng chỉ còn cách áp dụng hết sức của mình có được để đâm nó mới mong chiến thắng nó, dồn hết sức, mọi đau đớn, lòng kiêu hãnh của mình vào cú đánh đòn quyết định, nhấc ngọn lao phóng xuống sườn con cá”, con cá chủ quan, khi nhìn nhận cái nguy hiểm gần kề thì đã muộn, mũi dao đã phập vào mình, ”mang cái mệt trong lòng, nó tung mình lên cao trên mặt nước phô bày hết tầm vóc khổng lồ, sức mạnh và vẻ đẹp của nó”.

Cuối cùng ông đã chinh phục được nó trước khi nó tìm cách thoát thân được, nhưng cũng không nguôi tiếc nuối khi phải giết nó. Ta có thể thấy được tâm lý, tầm vóc trong suy nghĩ lớn lao của con người, sánh vai với cả vũ trụ, với đại dương, ý chí nỗ lực của cả hai đều được tác giả công nhận, nhưng in đậm lên trên sẽ vẫn dễ hiểu đó là hình ảnh ông lão người lao động bình dị, mà có nghị lực phi thường, ca ngợi về ông cũng chính là sự ca ngợi về chính thế hệ con người trước thiên nhiên bất tận.

Hình ảnh ông lão vật vã đưa con cá thành quả trở về sau những ngày dài chính là biểu hiện cho lý tưởng sống cao cả, không chịu bỏ cuộc, tiếp tục kiên trì mà ông đã lập được kỉ lục. Nhìn lại những những phút giây trải qua chiến đấu không hề đơn giản chút nào với con cá, dùng hết sức lực ông có, thì ông mệt nhoài, nhiều lúc thân xác đã đói meo, lưng đau,.. nhưng với bản lĩnh, với kinh nghiệm của ông đã giúp ông vượt qua hết thử thách này đến thử thách khác mà con cá tạo ra, ông luôn tự dặn lòng, động viên mình, khích lệ cho tinh thần chiến đấu không ngừng nghỉ của bản thân.

Có thể thấy trong câu chuyện là thích hợp, phù hợp, gợi nhắc đến mối liên hệ với nguyên lí tuyệt vời của nhà văn Hemingway “tảng băng trôi” ở đây chính con cá là bề nổi của vấn đề là cuộc đi săn ngang tài ngang sức lần này của ông lão. Để ta thấy được bề chìm rằng trên con đường đi tới thành công sẽ đầy rẫy những khó khăn, không dễ dàng, nhưng nếu có niềm tin bất diệt nơi bản thân, kiên trì theo đuổi đến cùng chắc chắn sẽ thành công.

Có thể thấy được trong câu chuyện có những lúc cá và người hiểu nhau, cùng nhau thả mình, cùng nhau chia sẻ những vất vả qua câu nói “tao chưa từng thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ!”, mà còn là đối thủ ngang tài ngang sức. Hay suy rộng ra có lẽ nó là hình ảnh thiên nhiên luôn gần gũi với con người, nó là nơi ươm mầm giúp cho con người nuôi trong mình những khát khao chinh phục, như những khó khăn thử thách mà con người phải vượt qua, để tiến bộ, để có được cái thành quả.

Đoạn trích chính là tiêu biểu cho một phong cách viết văn của nhà văn Hemingway, bằng cách sử dụng hai hình tượng con cá kiếm và ông lão mang biểu tượng sâu sắc, mang nhiều tầng nghĩa của tác phẩm, đặt con người cô độc vào trong chính hành trình của mình, tự chiến đấu, tự chiến thắng bản thân mình vì một khát vọng lớn lao, có thể minh chứng cho một chân lý “con người sẽ luôn sống hết mình với những ước mơ của mình, phải luôn có niềm tin, theo đuổi mục tiêu đến cùng chắc chắn sẽ thành công”, và “con người có thể bị hủy diệt, nhưng không thể bị đánh bại”.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 2

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 3

Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX. Ông là người khai sinh ra nguyên lí sáng tác: coi tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi, người đọc tự khám phá phần chìm để thấy được ý nghĩa và giá trị đích thực của tác phẩm, ông vinh dự được nhận Giải Pu-lit-dơ (1953) – giải thưởng văn chương cao quý nhất của Hoa Kì và Giải thưởng Nô-ben về văn học (1954).

Hê-minh-uê đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, hồi kí, ghi chép… Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm Ông già và biển cả. Đây là cuốn tiểu thuyết tuy chỉ có tầm cỡ của một truyện vừa nhưng lại là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê bởi nó đã chứa đựng thông điệp quan trọng được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn: Con người được sinh ra không phải để dành cho thất bại. Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại.

Bối cảnh của truyện là ngôi làng chài yên ả gần bến cảng La-ha-ba-na. Nhân vật chính là ông lão ngư phủ Xan-ti-a-gô với mơ ước cháy bỏng là sẽ đánh bắt được một con cá lớn nhất trong đời. Một mình trên con thuyền nhỏ bé ra khơi, ông lão quyết lập chiến công. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đầy vất vả, hiểm nguy, cuối cùng ông lão đã đánh bắt được một con cá kiếm khổng lồ, buộc nó cặp mạn thuyền rồi dong vào bờ.

Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô đơn độc, quật cường đã chiến thắng con cá kiếm khổng lồ bằng ý chí phi thường và kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê ca ngợi phẩm chất đáng quý của con người lao động. Ông già và biển cả được đánh giá là bài ca ca ngợi con người. Đây là tác phẩm hay nhất, nhiều ý nghĩa nhất, vì thế nên đọc bất cứ đoạn nào chúng ta cũng thấy sự thể hiện sinh động của nguyên lí tảng băng trôi trong sảng tác của Hê-minh-uê.

Đoạn trích kể về việc sau khi con cá kiếm mắc câu, ông lão Xan-ti-a-gô đã vật lộn với nó gần hai ngày đêm, sức lực cạn kiệt nhưng ông lão vẫn quyết tâm giết bằng được nó. Cuộc chiến để thu hồi thành quả lao động của ông lão Xan-ti-a-gô quả là vất vả và khó nhọc.

Nhà văn miêu tả con cá kiếm như một “nhân vật đặc biệt” với những nét khác thường. Ở đầu đoạn trích, con cá chưa xuất hiện ngay mà chỉ tạo ấn tượng bằng những vòng lượn tròn rất lớn. Nhà văn có dụng ý để ông lão cảm nhận gián tiếp về con cá qua những vòng lượn của nó. Từ lúc mắc câu, con cá kiếm không nổi lên mặt nước mà cứ kéo sợi dây câu bơi ra xa. Sau đêm thứ hai, khi đã kéo chiếc thuyền của ông lão đi khắp các hướng thì con cá bắt đầu lượn vòng.

Những vòng lượn gợi lên từng thời điểm và mức độ căng thẳng của cuộc đấu sức giữa ông lão và con cá kiếm. Lần thứ nhất, con cá còn khỏe nên nó lượn một vòng tròn rất lớn. Hai giờ sau, các vòng tròn hẹp hơn. Đến lần thứ hai, sau khi quật mạnh sợi dây vài lần, con cá không quật dây đáy nữa mà bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm, tức là nó đã dần dần đuối sức. Hai lần đầu, ông lão phán đoán độ lớn của con cá nhờ cảm giác từ đôi tay đang níu giữ sợi dây. Những vòng lượn tiếp theo, con cá đã nhô mình lên khỏi mặt nước và ông lão lần đầu tiên thấy con cá.

Xảy ra đồng thời với những vòng lượn để thoát khỏi lưỡi câu của con cá kiếm là hành động dùng hết sức níu sợi dây để kéo con cá vào gần thuyền của ông lão. Cứ mỗi lần con cá lượn vòng là mỗi lần ông lão phải gắng sức, đến nỗi cảm thấy choáng váng. Sau mỗi lần như thế, ông lão lại tự nhủ: Hãy cố lên chút nữa, hãy giữ đầu óc tỉnh táo! Những chi tiết này cứ lặp đi lặp tại cho đến khi ông lão phóng ngọn lao vào trúng tim con cá.

Sự lặp lại những vòng lượn của con cá kiếm còn gợi lên hình ảnh một ngư phủ từng trải và lành nghề. Chỉ bằng mắt nhìn và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông lão đã ước lượng được độ lớn của con cá qua những vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần. Xan-ti-a-gô đã khéo léo điều khiển sợi dây vì nếu để chùng dây thì không thể kéo con cá lại gần, còn nếu căng dây quá thì con cá sẽ nhảy vọt lên, có thể làm tuột lưỡi câu. Lúc đầu, ông lão thu ngắn dây để con cá không thể quay vòng: Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng.

Diễn biến cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô được tác giả miêu tả như một trận chiến đấu thực sự. Suốt hai giờ đồng hổ, ông lão mệt nhoài, người đẫm mồ hôi vì cứ phải ra sức kéo sợi dây để cho con cá khỏi quay vòng. Sức lực của ông lão suy kiệt nhanh chóng, ông lão thấy hoa mắt…, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán. Ông lão tự nhủ: Chúa sẽ giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể đọc.

Đến vòng lượn thứ ba, khi đã thấm mệt, con cá không quật dây nữa và bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm… Rồi ông lão nhìn thấy: Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tỉa trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng.

Ông lão phân tích tình hình, tìm mọi cách kéo con cá lại gần thuyền và tự động viên: Hãy bình, tĩnh và giữ sức, lão già ạ. Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Hãy tỉnh táo vì tao, đầu à… Nhưng đó cũng là lúc sức cùng lực kiệt: Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, hoặc nếu có thì cũng bằng giọng thì thảo, yếu ớt.

Cách kể chuyện và miêu tả hấp dẫn của tác giả giúp người đọc hình dung ra diễn biến trận đánh càng về sau càng gay go, căng thẳng. Sức lực của ông lão cứ yếu dần đi theo từng vòng lượn của con cá kiếm. Trong tình huống đơn độc và gay cấn, ông lão biết rằng tốt hơn cả là tự cứu mình. Vì thế nên ông lão củng cố tinh thần và sức chịu đựng để tồn tại và chiến thắng, luôn luôn tự nhủ: Hãy giữ cho đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như một con người.

Ý chí, nghị lực của ông lão Xan-ti-a-gô còn thể hiện ở quyết tâm bắt bằng được con cá. Sức lực cạn kiệt nhưng lão vẫn cố gượng dậy để tiếp tục chiến đấu: Lão cảm thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, lão cảm thấy choáng váng, đau đớn… Ông lão phán đoán, phân tích tình thế rồi đưa ra giải pháp hành động hợp lí, chính xác, đồng thời kiên trì chịu đựng và tin rằng mình sẽ giết được con cá: Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó… Tao sẽ tóm mày ở đường lượn… Ta đã di chuyển được nó.

Thái độ đối với con cá kiếm phản ánh diễn biến phức tạp trong tâm trạng ông lão lúc này. Ông lão vừa yêu quý, khâm phục con cá vừa quyết tâm phải hạ gục nó. Lão thân mật gọi nó là người anh em và chân thành bày tỏ: Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ.

Nguyên do là vì Xan-ti-a-gô suốt đời làm nghề đánh cá mà đã lâu không bắt được con cá nào, có nghĩa là ông lão không còn tồn tại với tư cách của một ngư phủ. Ông lão đặt ra cho mình nhiệm vụ là bằng mọi giá phải bắt được con cá kiếm. Trong cuộc săn đuổi đó, con cá kiếm đã bộc lộ phẩm chất cao quý như một con người chân chính. Nó không lồng lên làm đắm thuyền, không lặn sâu xuống bứt đứt dây câu mà chấp nhận cuộc đấu tay đôi một cách sòng phẳng.

Nó mải miết kéo chiếc thuyền của ông lão ra khơi xa. Những lời trò chuyện với con cá kiếm và độc thoại nội tâm cho thấy ông lão có cảm nhận rất khác lạ về con cá mà mình đang săn đuổi. Con cá kiếm khổng lồ vừa là đối tượng chinh phục vừa là bằng hữu của ông lão. Điều đó cho thấy hành trình tìm kiếm ước mơ của con người là vô cùng vất vả và hành trình thực hiện ước mơ lại càng gian nan hơn, đòi hỏi con người phải tập trung trí lực cao độ.

Hình ảnh con cá kiếm còn tượng trưng cho khát vọng nghệ thuật và quá trình sáng tạo của nhà văn. Sự xuất hiện lần đầu của con cá kiếm ám chỉ cơ hội cho nhà văn khám phá cuộc sống. Hành trình theo đuổi con cá của ông lão Xan-ti-a-gô cũng là hành trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Con cá kiếm vừa xuất hiện cũng giống như tác phẩm mới hình thành ở ý đồ sáng tác, nhà văn chỉ mới cảm nhận được ý nghĩa tiềm ẩn của nó.

Đoạn trích trên tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Hê-minh-uê: ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lối kể chuyện thông qua việc sử dụng đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật cùng với những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng. Sự lặp đi, lặp lại những chi tiết theo kiểu kết cấu vòng tròn xoắn trôn ốc giúp người đọc có thể bóc dần từng lớp vỏ ngôn ngữ để khám phá ra ý nghĩa và giá trị thực sự của tác phẩm. Đoạn trích còn cho thấy khả năng quan sát nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú của Hê-minh-uê – nhà văn bậc thầy về tiểu thuyết.

Tác phẩm Ông già và biển cả cũng thể hiện tình cảm yêu mến, khâm phục của nhà văn đối với những con người lao động nghèo khổ. Tác giả muốn chuyển đến người đọc một thông điệp quan trọng: Trong cuộc đấu tranh vật lộn mưu sinh hay để lập chiến công, con người có thể chấp nhận cái chết, nhưng không bao giờ chấp nhận lùi bước. Câu chuyện về ông lão đánh cá già nua, đơn độc nhưng vô cùng dũng cảm đã cổ vũ biết bao người trên thế giới dám dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh vì hạnh phúc của nhân loại.

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 1

Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” số 2

Nhắc đến nguyên lý tảng băng trôi nổi tiếng thì chúng ta nhớ ngay đến nhà văn Hê-minh-uê. Có thể nói ông là một nhà văn vĩ đại nhất nước Mỹ thế kỉ XX. Ông để lại nhiều tiểu thuyết hay có giá trị về cuộc sống trong đó có tác phẩm Ông già và biển cả. Từ tiểu thuyết ấy đã đánh dấu tên tuổi của ông. Đặc biệt tác phẩm ấy còn được viết theo nguyên lý tảng băng trôi.

Trước hết là nguyên lí tảng băng trôi thì ông chính là người đề xướng lối viết kiệm lời nhưng lại giàu ý nghĩa ấy. Theo ông thì một tác phẩm thì phải được viết theo nguyên lí tảng băng trôi mà chỉ có ba phần nổi bảy phần chìm đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ chiêm nghiệm mới có thể thấy hết cái hay của nó. Nhà văn không trực tiếp nói ra ý tưởng của mình mà phải xây dựng những hình tượng có rất nhiều sức gợi. Có những câu văn để trống để cho mọi người tự suy nghĩ và tìm hiểu, tự rút ra phần ẩn ý của tác phẩm.

Về tác phẩm thì nhân vật chính là ông già Xantiago – một ông già đánh cá người Cu ba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền lão không câu được bất cứ một con cá nào dù nhỏ hay to. Chính vì thế mà đến cậu bé Ma nô lin cũng bị bố mẹ cấm không cho đi câu chung với lão nữa. Có thể nói người ta cho rằng ông vận xui rồi. Một hôm với ý chí không chịu khuất phục của mình, Xantiago quyết định một mình ra khơi đánh cá. Thế rồi câu chuyện bắt đầu từ đó và những hình tượng ý nghĩa cũng từ đó mà được nhà văn thể hiện.

Ông lão đi đến trưa thả một lần bốn cần câu và đợi cho đến trưa thì có một con cá kiếm cắn câu. Con cá ấy to lớn làm cho ông lão cảm thấy rất xứng đáng với tài nghệ của mình. Chính vì thế mà ông quyết định phải bắt được nó vào bờ cho người ta không nói được gì ông nữa. Con cá hiện lên với những ấn tượng vô cùng đẹp. Đó là một con cá to nó thể hiện qua những vòng lượn tròn rất lớn.

Không những thế ông lão còn thấy nó qua một cái bóng đen vượt dài qua dưới thuyền, Lão không thể tin vào độ dài của nó. “Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm”. “Thân hình đồ sộ và những dọc dài màu tía”, “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”. Nhà văn đã dùng những từ hay nhất gọn nhất để có thể miêu tả hình ảnh của con cá kiếm ấy.

Con cá ấy hiện lên thật sự rất lớn, nó làm cho ông lão cảm thấy như đang buộc một con thuyền khác lớn hơn vào cạnh thuyền của mình. Ngay khi đó, con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt hai ngày đêm. Một con người cô độc, ra khơi chỉ với một chai nước và quyết tâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tài nghệ của mình, lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định. Liệu lão có chinh phục được con cá kiếm ấy không?

Và cuộc chiến giữa ông già và con cá bắt đầu từ đó, một cuộc chiến không cân sức. Về phía con cá nó tỏ ra cũng rất khôn ngoan. Khi bị mắc câu thì con cá lượn vòng chậm rãi bên thuyền sau đó nó lại đột ngột tấn công ông lão. Khi mệt nó lại chậm rãi, có những lúc ông lão tưởng rằng đã bắt được nó nhưng nó lại bơi ra xa.

Con cá khiến ông lão chóng mặt hoa mắt choáng váng. Những vòng lượn ấy như thể hiện được sự cố gắng thoát khỏi sự bủa vây của người ngư phủ. Nó “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trên không trung… rơi sầm xuống nước bắn tung trùm lên cả ông lão và chiếc thuyền”

Qua đây ta thấy được ý đồ nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua hình tượng con cá kiếm. Đó là con cá kiếm là hình tượng văn học mang tính người, toát lên sự kiêu dũng cũng như bất khuất vượt lên mọi khó khăn của cuộc sống. không những thế con cá kiếm còn là biểu tượng của thiên nhiên đẹp đẽ vô cùng. Sức mạnh của thiên nhiên được thể hiện qua hình tượng đặc điểm của con cá kiếm ấy. Đồng thời nó biểu tượng cho ước mơ khát vọng của con người.

Về phía ông lão thì sao? Ông tỏ ra mừng vui khi thấy con cá nhưng ông cũng biết là mình sẽ phải chiến đấu với nó để đi về. Đây là một cuộc chiến đấu không cân sức mà bên yếu lại là ông lão. Thế nhưng ông không chịu khuất phục mà kiên quyết bắt con cá đó về. Ông cảm nhận được những vòng lượn của con cá qua áp lực của những sợi dây.

Và khi nhìn sự căng trùng của sợi dây thì ông biết nên kéo hay nới lỏng ra. Đặc biệt là hành động nhanh chóng và dứt khoát ông đã phóng lao trúng tim con cá. Cuộc chiến không cân sức như thế nhưng ông nhất định kiên cường ý chí và cuối cùng ông đã thu phục được nó.

Qua đây ta thấy được nhà văn khẳng định sức mạnh và vẻ đẹp của con người qua hình tượng ông lão. Đặc biệt là sự thắng lợi của con người trong hành trình chinh phục thử thách. Thế nhưng kết cục câu chuyện thì quá thương tâm bởi vì khi ông bắt được nó như thế nhưng cuối cùng cũng bị đàn cá mập đến rỉa thịt con cá kiếm khiến cho nó khi vào bờ chỉ còn trơ bộ xương mà thôi. Nhưng điều đó không quan trọng mà quan trọng là ông lão đã thắng trong trận đấu không cân sức đó. Chính những điều đó mới là những điều để nhà văn gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng.

Qua đây ta thấy được phần nổi và phần chìm của tác phẩm. Phần nổi là hành trình chinh phục con cá kiếm của ông lão Xantiago. Còn phần chìm gồm ông lão biểu tượng cho sức mạnh và trí tuệ của những người dân lao động. Con cá kiếm biểu tượng cho sức mạnh vẻ đẹp của thiên nhiên.

Biển cả khung cảnh kì vĩ đã là môi trường hoạt động sáng tạo của con người. Còn cuộc đi câu kia chính là hành trình đi tìm cái đẹp và chinh phục thiên nhiên. Nó còn là hành trình theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Và đồng thời là hành trình để vượt qua thử thách để tới thành công.

Như vậy qua đây ta thấy được nguyên lí tảng băng trôi của Hê-Minh-uê và tác phẩm Ông già và biển cả. Qua tác phẩm này chúng ta không những hiểu được những phần chìm phần nổi của nó mà còn học tập được từ nhà văn lớn ấy lối viết kiệm lời này.

Đăng bởi: Nguyễn Thị Thảo

Từ khoá: 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê

10 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm “Nỗi Thương Mình” Trích “Truyện Kiều” Của Nguyễn Du

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 10

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học mà Nguyễn Du đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam. Truyện Kiều không chỉ nổi tiếng về ý nghĩa truyện được thể hiện qua cuộc đời các nhân vật mà còn được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đoạn trích Nỗi thương mình kể về nỗi đau đớn tủi nhục trong quãng đời của Kiều.

Sau khi mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà hành hạ đến mức “Uốn lưng thịt đổ,… dập đầu máu sa”, Kiều đau đớn kêu lên: “Thên lươn bao quản lấm đầu – Chút lòng trịnh bạch từ sau xin chừa”. Bà Tú đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh từ đó. Đoạn trích Nỗi thương mình đã thể hiện một cách xúc động về nỗi đau đớn tủi nhục thương thân xót phận và ý thức về nhân phẩm của Thúy Kiều bị ép, bị đẩy vào vũng bùn tanh hôi trong xã hội lúc bấy giờ. Đây là cảnh Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà:

“Biết bao bướm lả ong lơi;

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”.

Lời thơ thật là chua chát sâu cay, “Biết bao” là không đếm được, tính được, không nhớ hết được những khách hàng Kiều phải phục vụ. Kiều phải tiếp khách làng chơi triền miên: “đầy tháng”, “suốt đêm”, “sớm đưa”, “tối tìm”. Phải trải qua “bướm lả ong lơi”, phải “sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”. Phải sống trong cảnh “Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm”. Nguyễn Du đã sử dụng tài tình các ẩn dụ: “Bướm lả ong lơi”, “cuộc say”, “trận cười”, các thi liệu, điển tích: “lá gió cành chim”, Tống Ngọc, Trường Khanh để diễn tả hiện thực chốn lầu xanh ngày xưa ấy. Tác giả đã lấy cái nhã, dùng lối nói ẩn dụ để tả cái thô, cái bẩn dưới đáy xã hội thối nát lúc bấy giờ. Cái xã hội mà ở đó con người không còn chút lương tâm, vì tiền mà đẩy người phụ nữ vào cảnh cùng cực nhất.

Bốn câu thơ trên đã miêu tả chi tiết về cuộc sống của những thân phận phụ nữ ở chốn lầu xanh. Ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ có thể bình thản coi việc làm của mình rất đỗi bình thường, trớ trêu thay Kiều lại có một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong trắng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ. Vậy nên, hai câu tiếp đã cho thấy tâm trạng của Kiều trong những ngày tủi nhục, nỗi ê chề, sự ép buộc, đày đọa mà Kiều phải chịu đựng:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa”

Những câu thơ tiếp theo thể hiện tâm trạng với những ưu phiền của nàng Kiều khi phải sống trong cảnh dơ bẩn ấy. Các từ ngữ: “giật mình’, “thương mình xót xa”, “khi sao”, “giờ sao” chứa đầy tâm trạng, “tâm trạng đâu khổ”. Nghĩ về những ngày còn ở với mẹ cha “phong gấm rủ là”, Kiều đau đáu thương cho thân phận mình phải đem nhan sắc làm món hàng cho khách làng chơi. Các điệp ngữ, so sánh ẩn dụ và nghệ thuật tương phản đã nói lên nỗi xót xa đau đớn của Thúy Kiều sau những tháng ngày “bướm lả ong lơi”:

“Khi sao phong gấm rủ lГ

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”.

“Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”.

Trong đoạn thơ này, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ (gió, sương, bướm, ong) và thủ pháp phân hợp từ ngữ: “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường” để cực tả nỗi tụi nhục của một người con gái bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp. Lúc nào Kiều cũng tự ý thức về nhân phẩm của mình. Các từ ngữ “mặc người”, “nào biết” đã thể hiện rõ ý thức ấy, đó là tâm hồn thanh cao trong sạch:

“Mặc người mưa Sở mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì?”.

Đối với khách làng chơi, những phong lưu “quen thói bóc rời”: như Thúc Sinh thì chốn lầu xanh, cõi yên hoa là cảnh thần tiên, là cảnh rộng truy hoan:

“Đòi phen gió tựa hoa kề,

Nửa rèn tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”.

Trong chốn lầu xanh đó, cuộc sống của nàng Kiều không hề thiếu thốn điều gì. Cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: xuân có hoa; hè có gió; thu có trăng; đông có tuyết. Nhưng trước những cảnh đẹp đó, Kiều dửng dưng, thờ ơ bởi con tim nàng đã bị nỗi đau khổ quá mức làm cho giá lạnh. Chốn lầu xanh dơ bẩn kia không chỉ có phong, hoa, tuyết, nguyệt, mà còn có cầm, kì, thi, họa, là môn nghệ thuật mà nàng Kiều say mê:

“Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”.

Giữa cuộc sống sa hoa đầy đủ như vậy Kiều vẫn dửng dưng và cảm thầy nàng đau khổ, tê tái vì thấy nhục nhã ê chề. Mọi cảnh vật đều nhuốm vẻ sầu thương vì lòng nàng đang đau đáu tủi nhục:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”.

Phải nói rằng Nguyễn Du có một tài năng phi thường và một tình thương rộng lớn Nguyễn Du mới có thể viết lên hai câu thơ hay nhất về mối liên hệ tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình trong văn chương Việt Nam từ trước đến nay. Giữa chốn lầu xanh ồn ã ngựa xe, Kiều vẫn cảm thấy cô đơn, buồn tủi vì nàng tự ý thức nhân phẩm của mình, nàng nhận thấy cái chốn bẩn thỉu đó không phải là nơi giành cho nàng. Giữa chốn thanh lâu tìm đâu ra “tri âm” nên nàng sống trong tâm trạng “vui gượng”. Đó là tâm trạng của một giai nhân “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, một phẩm chất cao đẹp đáng trân trọng ở nàng Kiều.

“Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?”.

Cấu trúc tứ bình (phong, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kì, thi, họa) với nghệ thuật tương phản và sử dụng câu hỏi tu từ, nhà thơ đã làm nổi bật tâm trạng đau khổ, tủi nhục, cô đơn của người con gái tài sắc đang vùng vẫy chống chọi lại cảnh đời trụy lạc. Ý thức cao về nhân cách, nhân phẩm của Kiều đã được nhà thơ thiên tài Nguyễn Du cảm thông và trân trọng. Những vần thơ đẹp đã làm tôn lên giá trị nhân bản đoạn thơ “Nỗi thương mình”. Giữa chốn thanh lâu mà Kiều vẫn vượt qua mọi cám dỗ, cố vượt lên cảnh ngộ để giữ lấy nhân phẩm. Vì thế sau 15 năm lưu lạc, Kiều phải trải qua “than lâu hai lượt”, nhưng Kim Trọng càng hiểu nàng hơn ai hết:

“Như nàng lấy Hiếu làm Trinh

Bụi nào có đục được mình ấy vay?”.

Đoạn thơ thể hiện được cuộc sống của nàng Kiều ở chốn lầu xanh và tâm trạng cô đơn buồn tủi của nàng. Với ngoài bút sắc sảo, tài tình nhà thơ đã cho người đọc thấy được phẩm chất đáng trân trọng của Kiều. Dù bị xã hội xô đẩy, phải sống trong chốn dơ bẩn nhưng nàng không thay đổi suy nghĩ cũng như phẩm giá cao quý của người con gái.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 10

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Ông để lại cho đời một sự nghiệp văn học rất đồ sộ. Ông dành rất nhiều tác phẩm viết về số phận hồng nhang bạc mệnh với tấm lòng thương cảm sâu sắc như: Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh Ký,… Đặc biệt, ông đã thể hiện sự đồng cảm đó qua kiệt tác Truyện Kiều mà trong đó nổi bật hơn cả là đoạn trích “Nỗi thương mình”.

Sau khi Thúy Kiều bị Mã Giám Sinh lừa bán vào lầu xanh. Biết mình bị lừa, nàng đã chống trả rất quyết liệt và rút dao định tự sát, nhưng không chết. Mụ Tú Bà thấy Thúy Kiều không chịu tiếp khách nên đã bày mưu cùng với Sở Khanh (tên tay sai của Tú Bà) để lừa Thúy Kiều trốn. Nhẹ dạ cả tin nên thúy Kiều lại bị lừa và bị mụ Tú Bà đánh đập rất dã man. Thúy Kiều phải ra tiếp khách làng chơi từ đó.

Đoạn trích “Nỗi thương mình” dài 20 câu thơ, từ câu 1229 đến câu 1248 đã nói về những tháng ngày Thúy Kiều sống trong chốn lầu xanh. Đoạn trích đã thể hiện một cách xúc động về nỗi đau đớn, tủi nhục, thương thân xót phận và ý thức cao về nhân phẩm của Kiều khi bị ép, bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh. Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng ở chốn lầu xanh của mụ Tú Bà:

“Biết bao bướm lả ong lơi,

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.”

“Biết bao” là không đếm được, tính được, không nhớ hết. Kiều phải tiếp khách làng chơi triền miên: “đầy tháng”, “suốt đêm”, “sớm đưa”, “tối tìm”, phải trải qua “bướm lả ong lơi”, phải “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”, phải sống trong cảnh “Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm”. Giữa cái không khí ồn ào, náo nhiệt, lả lơi, dập dìu, sớm đưa, tối tìm ấy nổi bật lên một hình ảnh nàng Kiều cô đơn, buồn tủi. Nguyễn Du đã sử dụng tài tình các ẩn dụ: “bướm lả ong lơi”, “cuộc say”, “trận cười”, các thi liệu, điển tích: “lá gió”, “cành chim”, “Tống Ngọc”, “Trường Khanh” để diễn tả cảnh sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ ở chốn lầu xanh.

Tác giả đã lấy cái nhã, dùng lối nói ẩn dụ để tả cái thô, cái bẩn dưới đáy xã hội. Các hình thức đối xứng trong câu như: “bướm lả/ ong lơi”, “lá gió/ cành chim” được Nguyễn Du khai thác triệt để nhằm tô đậm nỗi thương thân xót phận của Kiều và làm nổi bật cảnh ăn chơi, thác loạn ở chốn lầu xanh, tạo nhịp điệu hài hòa cho câu thơ, đồng thời còn gây cảm giác đau đớn, xót xa thực sự cho người đọc. Bốn câu thơ đầu vừa là bức tranh sinh hoạt nhơ nhớp, xô bồ ở chốn lầu xanh vừa ẩn chứa tiếng thở dài não nuột của người con gái tài sắc vẹn toàn buộc phải làm kỹ nữ. Tác giả thương xót nàng Kiều rơi vào chốn vũng bùn tanh hôi, nơi nhân phẩm bị chà đạp, hủy hoại, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh ấy thì nàng Kiều đã ý thức rất rõ về nhân phẩm cao quý của mình.

Mười hai câu thơ tiếp theo nói về tâm trạng, nỗi lòng trong những tháng ngày làm kỹ nữ ở chốn làu xanh. Nguyễn Du đã thể hiện thật thần tình tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều khi phải đố diện với chính lòng mình:

Sống trong cảnh “Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm” thì chỉ “Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” Kiều mới có những khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với chính lòng mình. Lúc khách làng chơi ra về hết, đêm rất khuya chỉ còn một mình Kiều đối diện với ngọn đèn chong. Ở câu thơ thứ nhất, nhịp thơ 3/3 như gợi lên từng bước đi chậm chạp của thời gian. Thời gian và không gian vắng lặng càng gợi nỗi niềm cay đắng, xót xa của người con gái đang lênh đênh lưu lạc nơi đất khách.

Đến câu thơ thứ hai, nhịp thơ lại được chuyển thành 2/2/2/2. Cách ngắt nhịp đột ngột của hai chữ “giật mình” diễn tả tâm trạng thảng thốt của Thúy Kiều. Từ “mình” được tác giả lặp lại ba lần, nhấn mạnh sự cô độc, đau đớn cho thân phận của mình. Trạng thái thảng thốt cho thấy Kiều đã ý thức được thực tại bẽ bàng của mình, ý thức được thân phận, nhân cách của mình.

Nhịp điệu, âm hưởng, phép điệp từ của hai câu thơ trên được kết hợp hài hòa, tự nhiên, diễn tả thật chính xác tâm trạng đau đớn, sầu muội của Kiều. Trong cảnh tĩnh lặng của đêm khuya, nỗi đau ấy, nỗi sầu ấy như hiện rõ thành hình, thành khối. Đọc hai câu thơ trên chắc hẳn ai cũng sẽ phải ngậm ngùi rơi lệ. Khi Thúy Kiều nghĩ về quá khứ êm đềm, tươi đẹp, những ngày còn ở với mẹ cha “phong gấm rủ là”, Kiều đau đớn cho thân phận của mình phải đem nhan sắc làm món hàng cho khách làng chơi. Các điệp ngữ, các so sánh, ẩn dụ và nghệ thuật tương phản đã nói lên nỗi xót xa, đau đớn của Thúy Kiều sau những ngày phải tiếp khách làng chơi ấy.

“Khi sao phong gấm rủ lГ

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”

Quá khứ đối lập với hiện tại một cách khốc liệt. Trước kia, Thúy Kiều được nâng niu, quý trọng bao nhiêu thì giờ đây nàng lại bị vùi dập phũ phàng bấy nhiêu. Ở hai câu thơ này đã có: “khi sao”, “giờ sao”, tiếp theo sau nó lại viết: “mặt sao”, “thân sao”, lời cảm thán cất lên tê buốt, như những nhát dao cứ cứa sâu vào tim gan vô cùng đau đớn:

“Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”

Các biện pháp nghệ thuật tu từ ẩn dụ (gió, sương, bướm, ong) và thủ pháp phân hợp từ ngữ: “dày gió dạn sương”, bướm chán ong chường” đã được tác giả sử dụng để cực tả nỗi tủi nhục của một người con gái tài sắc vẹn toàn bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp. Lúc nào Kiều cũng tự ý thức về nhân phẩm của mình. Các từ ngữ “mặc người”, “nào biết” đã thể hiện rõ ý thức ấy:

“Mặc người mưa Sở mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì?”

Đối với khách làng chơi, những người phong lưu như Thúc Sinh thì chốn lầu xanh là cảnh thần tiên, là cảnh mộng truy hoan:

“Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”

Không chỉ có đủ “phong”, “hoa”, “tuyết”, “nguyệt” tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: “xuân: hoa; hè: gió; thu: trăng; đông: tuyết” mà còn có đủ các thú vui như cầm, kỳ, thi, họa:

“Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”

Trái lại, trái tim Kiều vẫn dửng dưng, thờ ơ vì nàng đau khổ tê tái. Mọi cảnh vật đều nhuốm vẻ sầu thương vì lòng nàng đang đau đớn, tủi nhục:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”

Kiều sống cô đơn vì nàng tự ý thức nhân phẩm của mình. Giữa chốn lầu xanh tìm đâu ra “tri âm” nên nàng lúc nào cũng sống trong tâm trạng “vui gượng”. Đó là tâm trạng của một gia nhân “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”:

“Vui lГ  vui gЖ°б»Јng kбє»o lГ

Ai tri âm đó, mặn mà với ai.”

Cấu trúc tứ bình (phong, hoa, tuyết, nguyệt; cầm, kỳ, thi, họa) với nghệ thuật tương phản và sử dụng câu hỏi tu từ, Nguyễn Du đã làm nổi bật tâm trạng đau khổ, tủi nhục, cô đơn của người con gái tài sắc vẹn toàn đang vùng vẫy chống trọi lại cảnh đời trụy lạc. Ý thức cao về nhân cách, nhân phẩm của Kiều đã được nhà thơ thiên tài Nguyễn Du cảm thông và trân trọng.

Đoạn trích “Nỗi thương mình” của Nguyễn Du cho thấy phẩm giá cao quý, trong trắng của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã thể hiện rất thành công nỗi đau khổ, buồn tủi đáng thương của Kiều giữa vũng bùn tanh hôi, nhơ nhớp để đề cao nhân phẩm, phẩm giá của Kiều. Đọc đoạn trích này, khiến người đọc càng xót xa, căm giận về cái xã hội phong kiến tàn ác xưa. Đồng thời, càng cảm phục, yêu thương người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại bạc mệnh – Thúy Kiều.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 9

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 8

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 9

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học mà Nguyễn Du đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam. Đoạn trích “Nỗi thương mình” kể về nỗi đau đớn tủi nhục trong quãng đời của Kiều khi bị Sở Khanh lừa gạt, Tú Bà đầy vào chốn lầu xanh. Cảnh Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà thật đau đớn, cùng cực:

“Biết bao bướm lả ong lơi;

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”.

Các ẩn dụ: “Bướm lả ong lơi”, “cuộc say”, “trận cười”, các thi liệu, điển tích: “lá gió cành chim”, Tống Ngọc, Trường Khanh đã được sử dụng để diễn tả hiện thực chốn lầu xanh. “Biết bao” là không đếm được, “suốt đêm” là sự triền miên vô tận. Kiều bị ném vào bùn nhơ, bị chà đạp không thương tiếc. Kiều thương cho số phận mình phải đem tài sắc làm thú vui cho những khách làng chơi:

Từ một cô gái khuê các, Kiều bị xã hội nhơ bẩn, vì tiền đẩy vào cảnh cùng cực. Nhớ lại những năm tháng êm đềm bên cha mẹ càng làm Kiều thêm tủi nhục:

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”.

Sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ kết hợp thủ pháp phân hợp từ ngữ: “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường”, nhà thơ đã cực tả nỗi tụi nhục của một người con gái bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp. Nhưng Kiều vẫn ý thức được nhân phẩm của mình:

Những mình nào biết có xuân là gì?

Trong chốn lầu xanh, cuộc sống của nàng Kiều không hề thiếu thốn điều gì. Cảnh thì có:

Đòi phen gió tựa hoa kề,

Nửa rèn tuyết ngậm bốn bề trăng thâu”.

cầm kì thi họa – những thứ Kiều thích và đam mê thì đầy đủ:

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”.

nhưng Kiều hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ:

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”.

Phong cảnh mang màu tâm cảnh. Cảnh mang tình người. Nàng cảm thấy đau khổ, tê tái vì thấy nhục nhã ê chề khiến cho mọi cảnh vật đều nhuốm màu đau thương như nàng đang chịu đựng. Bất kẻ lúc nào, dấu đắng cay hay sung túc, nàng vẫn luôn ý thức được nhân phẩm của bản thân.

Giữa chốn lầu xanh, Kiều vẫn cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Nàng không thể tìm lấy cho riêng mình một người tri âm, tri kỉ để tâm sự. Trong mọi cuộc vui, nàng chỉ có thể “vui gượng”:

“Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?”

Dẫu sống trong cảnh lầu xanh nhơ bẩn, Kiều vẫn giữ cho mình những phẩm chất cao quý của người con gái: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bơi thê, người đọc càng thấy thương cảm và trân trọng nàng.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 7

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 8

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Tác phẩm Truyện Kiều là một tuyệt phẩm tạo nên tên tuổi của thi hào Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều thể hiện tinh thần nhân văn nhân đạo của tác giả Nguyễn Du dành cho số phận của những người phụ nữ trong xã hội.

Đoạn trích “Nỗi thương mình” nói về chuỗi ngày đau đớn thể hiện nước mắt của Thúy Kiều khi nàng bị nhân vật Sở Khanh lừa tình và bị bán thân vào chốn lầu xanh, dưới sự quản lý dẫn dắt của mụ Tú Bà chuyên kinh doanh kiếm lợi từ thân xác phụ nữ một cách ghê tởm. Trong những ngày tháng sống vẩn đục, ô nhục đó thông qua ngòi bút của mình tác giả Nguyễn Du đã viết lên những dòng thơ với những lời thương cảm vô cùng sâu sắc dành cho Thúy Kiều:

“Biết bao bướm lả ong lơi

Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”

Khổ thơ mở ra những hình ảnh về chốn ăn chơi, lả lơi ong bướm thể hiện đây là chốn phong lưu, đưa tình, một nơi không có chỗ cho tình yêu thật sự mà chỉ là chốn rong chơi, mua bán nụ cười giả tạo. Một chốn đưa người cửa trước rước người cửa sau của những cô gái làng chơi.Những hình ảnh ước lệ “Cuộc chơi” “ong bướm” “dập dìu” .. khiến cho người đọc cảm nhận được sự nhộn nhịp, của chốn mua vui. Một nơi kinh doanh thân thể phụ nữ.

“Khi tỉnh rượu lúc canh tàn

Giật mình, mình lại thương mình xót xa”

Trong không gian của chốn ăn chơi đàng điếm này Thúy Kiều cảm thấy xót xa cho thân phận của mình nàng là người xuất thân con gái nhà lành, được cha mẹ cho ăn học đàng hoàng, bản chất lương thiện hiền lương, có đức hạnh, hiếu nghĩa. Có lẽ nằm mơ Thúy Kiều cũng không bao giờ nghĩ sẽ có ngày mình lại lưu lạc phải sống kiếp phong trần của gái giang hồ như thế này. Bị bao nhiêu người con trai chà đạp, bị vần vò cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Thúy Kiều sống mà phải mang nụ cười giả tạo, tiếng đàn để mua vui cho những gã đàn ông đốn mạt trốn vợ con đi tìm thú vui hưởng lạc, hoặc những tay công tử ăn chơi lắm tiền nhiều của nhưng ngu si hống hách, chỉ biết tiêu tiền của bố mẹ. Trong không khí như vậy Thúy Kiều chỉ biết mượn rượu giải sầu. Nàng muốn uống cho quên đi tất cả quên ngày tháng, quên thời gian, quên đi cha mẹ già ở quê nhà, quên chàng Kim Trọng mà nàng đã hứa trọn tình bên nhau.

Nhưng rượu uống thì “say” lúc đó, nhưng khi tỉnh lại nàng lại thấy “Giật mình, mình lại thương mình xót xa”. Trong một câu thơ nhưng tác giả Nguyễn Du đã sử dụng tới ba chữ mình thể hiện trạng thái khác nhau. Trong hai từ ‘Giật mình” thể hiện một hành động bất ngờ trước sự vật sự việc nào đó. “Mình lại” thể hiện danh từ nhân xưng mình, em, tôi, tớ trong bất kỳ một câu nói nào đó. Nỗi thương mình của Thúy Kiều“Thương mình” thể hiện tình cảm cô liêu, sự cô độc một mình. Hành động này thể hiện sự cô đơn, sự chua chát của Thúy Kiều dành cho mình trong những ngày tháng chốn phong trần nhơ nhuốc này.

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chường bất thân”

Không có ai hiểu nàng, không có ai xót xa cho thân phận của nàng nên Thúy Kiều tự mình thương mình. Nàng cảm thấy mình thật bất hạnh. Những cuộc vui chốc lát nhanh chóng tàn nhanh, rồi người cũng đi, chỉ còn lại sự quạnh quẽ cô liêu, chỉ còn nàng trong sự ủ ê chán chường. Một xã hội đầy bất công, nhơp nhuốc đã cướp đi hạnh phúc bình dị của một người con gái hiền lương đẩy nàng tới chốn này để rồi bị sống cảnh đời “vùi hoa dập liễu” cả thân xác và tâm hồn.

Đòi phen gió tựa hoa kề

Nửa rèm tuyết ngân bốn bề trăng thâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt nét cờ dưới hoa

Trong chốn hồng trần ăn chơi sa đọa này Thúy Kiều không có người tâm sự không có bạn tri kỷ. Nên nàng chỉ biết bầu bạn với thơ ca, đàn nhị. Nhưng những tiếng đàn dường như ai oán hơn, những vần thơ đẫm nước mắt khiến cho nàng cảm thấy mình sống đây mà như đã chết lâu rồi. Trong những câu thơ này tác giả đã sử dụng tài tình nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để khắc họa tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

Vui lГ  vui gЖ°б»Јng kбє»o lГ

Ai tri âm đó mặn mà với ai

Niềm vui của nàng chỉ là niềm vui của sự gượng cười mà thôi còn tâm hồn nàng đã chết từ lâu rồi. Trong trích đoạn này tác giả Nguyễn Du đã khiến cho người đọc cảm thấy rưng rưng lệ, cảm thương cho số phận của nàng Kiều khi sống những ngày sống nhơ nhuốc, vẩn đục ở chốn lầu xanh, phải mua vui cho những người đàn ông xa lạ.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 7

Đại thi hào Nguyễn Du viết nên kiệt tác Truyện Kiều giống như đã đóng góp viên ngọc sáng trong nền văn học Việt Nam. Lật dở từng trang truyện Kiều giống như từng chặng đường đời của người con gái “hồng nhan bạc mệnh” thân phận chịu nhiều đau thương, mất mát. Đoạn trích “Nỗi thương mình” là đoạn trích bi ai nhất về nàng Kiều khiến người đọc không khỏi xót xa.

“Nỗi thương mình” kể về chuỗi ngày nhiều đau đớn và nước mắt của Thúy Kiều khi cuộc đời bị đẩy vào chốn lầu xanh bị đè ép dưới tay của mụ Tú Bà ghê tởm. Cuộc đời nhơ nhớp, ô nhục của Thúy Kiều bắt đầu từ đây. Nguyễn Du như xé lòng khi kể từng trang viết về cuộc đời Thúy Kiều, câu mở đầu như vén bức màn u tối mà Kiều đang phải sống những tháng ngày ô nhục trong đó:

Biết bao bướm lả ong lơi

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh

Bằng cách sử dụng những hình ảnh ước lệ như “bướm lả ong lơi”, “cuộc vui”, “trận cười suốt đêm… đã hiện lên trước mắt người đọc cảnh ong bướm nhộn nhịp chốn lầu xanh kia. Nơi mà con người đem ra giống hàng hóa để trao đổi buôn bán làm thú vui xa hoa, cảnh làng chơi với các nhân vật Tống Ngọc và Trường Khanh thấy đậm nét hơn cuộc sống nơi đây. Người con gái nhỏ bé có số phận gắn với nơi này luôn ấp ủ trong mình một nỗi xót mà người đời không hay:

Khi tỉnh rượu lúc canh tàn

Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Nàng lấy rượu để giải sầu, để tâm hồn nàng được thoát khỏi nơi đây. Những lúc rượu tỉnh vào đêm khuya vắng nàng mới “giật mình” rồi tự “thương mình xót xa”. Phép điệp từ “mình” của Nguyễn Du đã gieo vào lòng người một nỗi xót xa, thương thay cho số phận người con gái long đong, bạc bẽo phải nương nhờ chốn phong trần. Những câu thơ tiếp theo là những năm tháng khi thân xác nàng Kiều phải chịu nỗi dơ bẩn, tuyệt vọng:

Khi sao phong gấm rủ lГ

Thân sao bướm chán ong chường bất thân

Số phận ấy không ai thương thay nên Thúy Kiều đành tự ôm nỗi lòng thương lấy chính mình mà chỉ biết sầu đau. Nguyễn Du lấy hình ảnh “hoa tàn” để nói lên cuộc đời bị chà đạp, vùi dập của người con gái mỏng manh. Người con gái đẹp như bông hoa đang nở rộ phơi sắc vậy mà cánh hoa bị dẫm đạp héo úa không chút thương xót. Qua đây tác giả cũng đã phê phán được xã hội bất công, xã hội còn tồn tại quá nhiều định kiến, chỉ toàn những cái xấu xa không cho người khác một đường để sống. Thúy Kiều tuyệt vọng đến mức tưởng mình đã chết lặng:

Nửa rèm tuyết ngâm bốn bề trăng thâu

Giữa chốn lầu xanh nàng lấy thơ, lấy họa, lấy đàn làm bạn để không cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Nhưng dù vậy thì lòng nàng cũng không khỏi u sầu “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” không gian của nỗi buồn vẫn bao phủ lấy nàng khiến nỗi sầu gieo càng sầu thêm. Nguyễn Du viết nàng Kiều tuy đã cố gắng “gượng” sống mà cũng như đã chết, đây thực sự là đoạn ám ảnh nói lên cuộc đời cay nghiệt:

Đoạn trích “Nỗi thương mình” mang đậm chất bi thương vừa là chuỗi hành trình kể lại từng mảnh đời của Thúy Kiều vừa là lên án được xã hội vạn ác đã chồng chất bao nỗi khổ đau lên một kiếp người.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 6

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 5

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 6

“Nỗi thương mình” (Truyện Kiều) là một đoạn trích thể hiện khá rõ tài năng nghệ thuật độc đáo, cái nhìn vượt thời đại và đặc biệt tinh thần nhân đạo mới mẻ của đại thi hào nguyễn Du. Đoạn trích chỉ vỏn vẹn hai mươi câu, từ câu 1229 đến câu 1248, cho thấy tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức sâu sắc về thân phận bất hạnh của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh.

Từ lúc gia đình gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thúy Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều gặp phải bao sự lọc lừa nhưng lần Thúy Kiều bị lừa đau đớn nhất có lẽ là lần nàng bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Nó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Thúy Kiều rẽ sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều rút dao định tự tử nhưng không thành.

Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị Tú Bà đánh đập tơi bời. Tiếp đó là những tháng ngày ê chề nhục nhã của nàng trong vai trò kĩ nữ – gái làng chơi, đem tấm thân trong ngọc trắng ngà của mình mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Những ngày Thúy Kiều ở chốn lầu xanh là những ngày nàng vô cùng buồn tủi, tâm trạng rối bời như tơ vò nghĩ về thân phận, sự tủi nhục của kiếp hồng nhan. Đoạn trích có một kết cấu khá logic với diễn biến tâm trạng và trớ trêu của cuộc đòi đầy bất hạnh khi nghe những lời độc thoại nội tâm đầy đau đớn : “Khi tỉnh rượu …xuân là gì?” Đó cũng là thời điểm mở đầu cho những chuỗi tâm sự nối kết, ngỗn ngang. Kiều nghĩ đến thân phận mình để rồi “mình lại thương mình xót xa” Kiều xót xa cho chính bản thân mình. Với nàng, hiện tại như một giấc mơ cay đắng khi nàng sánh với quá khứ. Mở đầu đoạn trích Nỗi Thương Mình là tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà:

Bốn câu đầu của đoạn trích cho ta thấy rõ hình ảnh lối sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Nguyễn Du đã miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng. Trong chốn lầu xanh ấy Kiều phải tiếp khách mua vui cho “biết bao” người mà nàng không thể nào nhớ đươc hay là đếm được, bởi lẻ một điều rằng hằng ngày Kiêu tiếp khách làng chơi triền miên “suốt đêm, sớm đưa, tối tìm” những từ ngữ ấy đã cho ta thấy đươc sự nhộn nhịp của chốn lầu xanh, nơi mà Tú Bà ăn nên làm ra.

Bằng những hình ảnh ẩn dụ: bướm lả ong lơi, cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm” và các điển tích điển cố: “lá gió cành chim”, “Tống Ngọc, Trường Khanh” – chỉ chung cho loại khách làng chơi phong lưu Nguyễn Du cho thấy tình cảnh của Thúy Kiều tuy sống trong cảnh lầu xanh tưởng như thanh tao, phong nhã nhưng thực chất đó chỉ là giả tạo, hằng ngày Kiều phải làm công việc nhơ nhuốc, tiếp đủ các loại khách đến mua vui. Điều này cho ta thấy rõ hơn về nỗi bất hạnh và tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều. Bút pháp ước lệ giúp Nguyễn Du không tránh né số phận thực tế của Kiều mà vẫn giữ được chân dung cao đẹp của nàng. Qua đó ta thấy được thái độ trân trọng, cảm thông của tác giả đối với nhân vật.

Ông đã tái hiện cái hoàn cảnh của Thúy Kiều bằng những sự đối lập nghiệt ngã: một bên là nước mắt Thúy Kiều – một bên là những cơn say, trận cười triền miên. Do vậy ở bốn câu thơ đầu, mặc dù chưa được miêu tả trực tiếp, người đọc vẫn thấy Kiều đang bị cuốn đi trong một cơn lốc vô hình, bị buộc vào cảnh sống nhơ nhớp nơi nhà chứa. Hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật phải trải qua, hé mở thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ. Nguyễn Du đã mỹ lệ hóa cho cảnh sống ấy bằng một thứ ngôn ngữ ước lệ rất tài tình: ước lệ theo thành ngữ dân gian, ước lệ theo điển tích làm cho sự hồi tưởng kiếp sống đớn đau của Kiều trở nên tao nhã hơn. Bởi vì chỉ có hồi tưởng mới diễn tả hết sức sống chân thật của nội tâm nhân vật, mới thể hiện đúng nỗi đau, mới nổi bật được phẩm giá và sự chịu đựng giày vò đáng thương của nhân vật. Đằng sau những câu thơ ấy là tấm lòng cảm thông, trân trọng mà tác giả dành cho Thúy Kiều.

Bốn câu thơ đầu đã đặt ra một tình thế của tâm trạng. Ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ có thể bình thản coi việc làm của mình rất đỗi bình thường, trớ trêu thay Kiều lại có một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong trắng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ, hai câu tiếp nói về tâm trạng của Kiều trong những ngày tủi nhục, nỗi ê chề, sự ép buộc, đày đọa mà Kiều phải chịu đựng:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Ở nơi lầu xanh đầy “cuộc say, trận cười” thì chỉ “khi tỉnh rượu lúc tàn canh” Kiều mới có một khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với chính mình và cũng là hoàn cảnh Kiều tỉnh táo nhất đối diện với con người mình. Thời gian và không gian thật vắng lặng như gợi lên nỗi niềm xót xa. Nhịp thơ có sự thay đổi giữa hai câu thơ trên từ nhịp 3/3 chuyển sang nhịp 2/4/2. Hai chữ “giật mình” kết hợp với cách ngắt nhịp ấy đã diễn tả sự biến đổi đột ngột trong tâm hồn Kiều. Nàng bàng hoàng đau xót trước thực tại phũ phàng và trơ trọi chỉ có một mình nàng tự xót xa, đau đớn cho chính số phận bi thương, đoạn trường của mình.

Giật mình không chỉ là hành động bên ngoài của nhân vật khi có một sự tác động đột ngột nào đó của môi trường bên ngoài. Đó là cái giật mình từ cảm xúc bên trong mà nếu không có thì Kiều cũng giống như tất cả các kĩ nữ khác trong thanh lâu của Tú bà. Kiều giật mình vì nhận ra sự tàn phá thảm hại về thể xác và phẩm cách của mình ở chốn lầu xanh, sự cô đơn lẻ loi của mình và sự yếu đuối bất lực của mình trước bao nhiêu sự xấu xa, cạm bẫy đang bủa vây mình mà ko thể chống đỡ. Điệp từ “mình’’ lặp lại ba lần trong một câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào, tha thiết của Thúy Kiều ý thức được về phẩm giá, nhân cách, quyền sống bản thân đó cũng là ý thức cá nhân và quyền sống của con người trong lịch sử phong kiến mà Nguyễn Du muốn truyền tải đến người đọc. Đối với hai câu trên với nhịp thơ đầy nỗi tủi nhục của Kiều thì những câu tiếp theo sau là những hồi ức dội về, hồi ức tươi sáng va đập thực tại tăm tối đọa đày:

“Khi sao phong gấm rủ lГ

Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chương bấy thân”

Một cô gái khuê các, tài sắc vẹn toàn, hiền lành đoan trang hết mực. Một cô gái nho gia bây giờ trở thành một cành hoa tan tác. Sự biến chuyển nhanh chóng đến mức chính Kiều cũng phải bàng hoàng, sửng sốt. Phép đối lập như một biện pháp nghệ thuật chủ yếu toàn đoạn trích và nhất là trong hai câu này càng tăng thêm giá trị biểu cảm. Nó tạo nên sự so sánh đối lập giữa hai quãng đời, hai thời gian, hai tình cảm. Cặp từ đối lập chỉ thời điểm: “Khi sao/giờ sao” tạo nên cảm giác đột ngột của sự thay đổi trong một khoảng thời gian không mấy cách biệt. Chính vì điều này đã làm vết thương của Kiều nhức nhối, đau đớn như đào sâu thêm vào nỗi xót xa, tê tái của Kiều.

Quá khứ hiện về đối lập với thực tại một cách khốc liệt, Kiều hồi tưởng lại những tháng năm “êm đềm trướng rũ màn che” thì lập tức thực tại phũ phàng lại hiện lên rõ nét hơn gấp bội, từ “phong gấm” diễn tả một sự bình yên, êm đềm trong quá khứ đối lập gay gắt với từ “tan tác” trong câu thơ nói về hiện tại như cái thực trạng phũ phàng bao trùm vùi chôn quá khứ êm đẹp. Phép so sánh “như hoa giữa đường” càng làm nổi bật sự đối lập tuyệt đối giữa quá khứ và thực tại, giữa cá nhân và hoàn cảnh. Cụm từ “bướm chán ong chường” và “dày gió dạn sương” là nét sáng tạo về cách dùng từ của Nguyễn Du, nhấn mạnh có ý so sánh theo mức độ tăng tiến cho ta thấy sự vùi dập, chà đạp mà Kiều phải gánh chịu. Các câu hỏi tu từ ở đây được Nguyễn Du sử dụng nhằm làm rõ hơn sự đau đớn, ê chề của Kiều trước thực tại phũ phàng, tàn nhẫn. Hai câu thơ day dứt một tiếng thở dài tuyệt vong của một cô gái vốn tài sắc hơn người, khát khao hạnh phúc nhưng bậy giờ đã chán ngán tất cả”:

“Mặc người mưa Sở mây Tần

Sống trong cảnh lầu xanh suốt ngày phải mua vui cho người khác hành hạ bản thân mình, lặp đi lặp lại hằng ngày ai cũng sẽ thấy chán chường muốn bỏ bê tất cả và Kiều cũng vậy. Sự đối lập giữa người – khách làng chơi (số nhiều) với chính mình – Kiều (số ít) như thể hiện tột cùng nỗi cô đơn của nàng. Từ ”xuân” ở đây ý chỉ niềm vui được hưởng hạnh phúc lứa đôi nhưng với Thúy Kiều sống làm vợ khắp người ta thì làm gì còn có mùa xuân, chỉ thấy trong đó là sự nhục nhã, lẻ loi, trơ trọi và cô đơn của cuộc đời người kĩ nữ mua vui. Từ ”mặc” ở đây lại chỉ sự bất lực, mặc cho mọi thứ muốn tới đâu thì tới, dằn vặt nặng nề đay nghiến của Thúy Kiều nhưng không làm sao khác được.

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa

Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp hiện lên, có đủ cả: phong – hoa – tuyết – nguyệt, cảnh đẹp bốn mùa hội tụ vào nơi đây, gió xuân vi vu thổi, hoa hạ đua nhau khoe sắc ngát hương, trăng thu sáng vằng vặc, tuyết đông phủ kín cả lầu tất cả đều rất thực, rất sinh động như vẽ nên bức tranh đầy màu sắc, âm thanh của lầu xanh và trong đó có đủ những thú vui của con người: cầm – kì – thi – họa càng tô điểm cho bức tranh ấy thêm phần nhộn nhịp, sống động hơn bao giờ hết. Nhưng nêu lên những cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tao nhã, nên thơ ấy lại như một sự giễu cợt, mỉa mai, chua chát. Vì dù ngụy trang khéo đến mấy, cũng không thể che đậy nổi cái bản chất nhơ nhớp, bẩn thỉu bên trong của chốn “buôn thịt bán người”. Đoạn thơ vì thế đồng thời hướng vào tâm trạng Kiều: Kiều luôn phải tách mình thành hai nửa: một con người bề ngoài vui gượng, giả tạo và một con người thực, sống để xót xa mỗi lúc canh tàn.

Cảnh không thể vui vì lòng người nặng trĩu nỗi tê tái… Khi gió tựa hoa kề, khi cung cầm thi họa, lúc nào nỗi đau cũng dâng đầy và nghẹn ứ trong lòng nàng. Ý thức về nhân phẩm một khi trỗi dậy là lại bị giày xéo, khiến nàng không nguôi bẽ bàng, nhục nhã về thân phận. Hai từ “đòi phen” được lặp lại trong tám câu thơ càng thể hiện rõ hơn đó là một nỗi đau thường trực, chưa lúc nào thôi dằn vặt Kiều. Nỗi sầu của Kiều lan tỏa sang cảnh vật:

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Bằng sự thông cảm lạ lùng, và bằng tài năng kì diệu, Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ hay nhất giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình. Từ một trường hợp cụ thể, thơ Nguyễn Du đã vươn tới tầm phổ quát, trở thành chân lí của mọi thời. Có thể nói hai câu thơ là đỉnh điểm của đoạn trích vì nó gột tả được sâu sắc hơn bao giờ hết nội tâm của nhân vật từ đó lan tỏa sang cảnh vật một cách thật tự nhiên và hợp lí. Nỗi buồn của Thúy Kiều cứ dâng lên, như sóng cồn triền miên không bao giờ dứt, nó cứ khuấy động bên trong sâu thẳm con người Kiều để rồi đến một lúc nào đó, tức nước vỡ bờ, nó dâng lên cuồn cuộn đánh động vào nỗi lòng, cảm xúc của Thúy Kiều, khiến cho mọi vật qua cái nhìn của nàng đều trở nên u buồn, tăm tối, nhuộm màu tang thương.

Hai câu thơ cuối là nỗi lòng của Thúy Kiều được Nguyễn Du thể hiện một cách tinh tế, độc đáo mà tâm sự này, tâm trạng này, Kiều của Thanh Tâm tài nhân không hề có được. Từ “vui gượng” nói lên tất cả sự lạc lõng, cô độc cũng là sự mâu thuẫn, bế tắc không lối thoát của Kiều trước hoàn cảnh. Sống trong cảnh nhơ nhớp, phải tiếp khách làng chơi, trải qua những cơn say, trận cười quanh năm suốt tháng, phải lả lơi… là điều bất đắc dĩ, Kiều không bao giờ muốn thậm chí không bao giờ có thể tưởng tượng được cuộc đời mình lại bi kịch như thế.

Giữa chốn lầu xanh mà đồng tiền lên ngôi, có bao kẻ đến rồi đi, cái còn lại sau cùng với Kiều chỉ là sự rã rời, đau đớn cả về thể xác và tâm hồn thì làm gì có ai là tri kỉ, có ai để “mặn mà” nhưng trong sâu thẳm cõi lòng, Kiều vẫn luôn mong ngóng một tấm lòng, một người hiểu mình. Một lần nữa ngôn ngữ nửa trực tiếp lại khiến cho câu thơ có những lớp nghĩa sâu sắc kết hợp câu hỏi tu từ đầy sót xa cay đắng cho thấy phẩm chất tốt đẹp của Thúy Kiều giàu lòng tự trọng, coi trọng phẩm giá và muốn sống một cuộc sống bình yên, trong sạch.

Đoạn trích thể hiện khá hoàn chỉnh số phận, tính cách của Thúy Kiều. Thể hiện tập trung tư tưởng nhân văn của tác giả: cảm thương trước bi kịch của Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng và khẳng định sự ý thức về nhân phẩm và sự ý thức cá nhân. Thể hiện nỗi thương mình của Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng thể hiện được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật với ngôn ngữ nửa trực tiếp, lời tác giả và nhân vật như hòa vào nhau tạo nên sự đồng cảm giữa tác giả – nhân vật – người đọc.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 5

Trong văn học Việt Nam,đặc biệt là với giai đoạn văn học trung đại, số phận người phụ nữ được rất nhiều tác giả đề cập đến: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Nguyễn Dữ,… Nhưng xuất sắc nhất phải kể đến là Nguyễn Du với kiệt tác “Truyện Kiều”. Tác phẩm đã khắc họa rõ nét thân phận nhỏ bé, đáng thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Đoạn trích “Nỗi thương mình” là một trong những phân đoạn thể hiện sâu sắc nhất cuộc đời đau khổ của nàng Kiều tài hoa bạc mệnh.

Từ lúc gia đình gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thúy Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều gặp phải bao sự lừa lọc nhưng lần nàng bị lừa đau đớn nhất có lẽ là lần bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Đó là bước ngoặt khiến cuộc đời Kiều rẽ sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều tự tử nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị Tú Bà đánh đập tơi bời. Tiếp đó là những tháng ngày ê chề, nhục nhã của Kiều trong vai trò kĩ nữ – gái làng chơi, đem tấm thân mình mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Những ngày ở chốn lầu xanh là những ngày nàng vô cùng buồn tủi, tâm trạng rối bời như tơ vò khi nghĩ về thân phận, sự tủi nhục của kiếp hồng nhan. Mở đầu đoạn trích Nguyễn Du đi miêu tả cảnh ăn chơi trác táng ở chốn lầu xanh:

“Lầu xanh mới rủ trướng đào

Cành treo giá ngọc, càng cao phẩm người.

Cuộc say đầy tháng trận cười thâu đêm

Những cuộc say sưa, những trận cười, cảnh đưa rước,… tất cả những cuộc vui đó cứ kéo dài ra quanh năm suốt tháng. Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ kết hợp với thủ pháp đối xứng, đan chéo để vừa thể hiện được một thực tế xót xa, thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ, vừa giữ được chân dung cao đẹp của nhân vật Thuý Kiều, qua đó thể hiện thái độ trân trọng đối với nhân vật của mình.Kiều bị đọa đầy, nhấn chìm trong chốn bùn nhơ không cất đầu lên được. Nhưng nỗi đau đớn của nàng, tâm sự thương mình của nàng, ý thức về nhân phẩm của nàng khiến ta chỉ càng thương nàng hơn, càng trân trọng nàng hơn. Sau những cuộc chơi thâu đêm suốt sáng, Kiều bỗng “giật mình”, xót xa khi nghĩ đến thân phận của chính mình:

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thương mình xót xa.”

Vẫn không gian lầu xanh của Tú bà nhưng thời gian đã là “lúc tàn canh”- đêm khuya, thời khắc hiếm hoi, quí giá để con người mình được đối diện với lòng mình, trở về với con người thật của mình. Tỉnh rượu, tàn canh là lúc con người sống thật với lòng mình nhất, tự thức về những hành động của mình, ý thức về những điều chua chát, đắng cay của bản thân mình. Và một khi đã ý thức được những hành động của mình thì đó cũng là lúc nhân phẩm của con người trỗi dậy, là nhân phẩm, bản chất tốt đẹp của nàng Kiều. “Giật mình mình lại thương mìng xót xa”, ba chữ “mình” trong một câu thơ gợi ra tất cả sự cô độc của thân phận. “Giật mình” như một sự bàng hoàng, thảng thốt đau đớn. “Giật mình” vì thấy ghê tởm cho cảnh sống hiện tại. “Giật mình” cho chính bản thân, một thiếu nữ khuê các nay rơi vào cảnh “bướm chán ong chường”, tấm thân vàng ngọc giờ đành để khách làng chơi giày vò. Vì thế mà bốn chữ “mình lại thương mình” chìm xuống, giọng thơ đầy thấm thía cô đơn xót xa. Bốn câu hỏi liên tiếp là nỗi niềm dằn vặt, tự đau, tự thương cự độ của “nỗi thương mình”:

Khi sao phong gấm rủ là,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

Trong bốn câu chỉ có câu đầu nói về quá khứ êm đềm còn ba câu liên tiếp nói về thực tại phũ phàng. Điều đó gây ấn tượng về việc hiện tại đang đè nặng, chôn vùi quá khứ. Bốn từ “sao” lặp lại: “khi sao”, “giờ sao”, “mặt sao”, “thân sao” là những câu hỏi mang sắc thái cảm thán mạnh bộc lộ nỗi đau xót đến cùng cực trong nỗi đoạ đày ê chề. Lời thơ vừa tức tưởi vừa ai oán, vừa xa xót vừa nghẹn ngào. Một lời than, sự ngạc nhiên, sự dằn vặt và ẩn đằng sau là nỗi tủi thân chua xót đến cùng cực mà trước đó là cuộc sống êm đềm hạnh phúc kẻ đón người đưa, tinh khôi, nõn nà, thơm tho…và bây giờ chỉ là một bông hoa tan tác, bị vùi dập giữa đường, bị ngắt khỏi cành bị lìa khỏi cội. Một cuộc sống thật phũ phàng, một cuộc đời bi thảm với cảnh tượng giày vò mua đi bán lại:

Ở đây không đơn thuần chỉ là sự so sánh. Hai từ sao đặt liền câu trước, câu sau tạo nên sự cách biệt, một nhân vật thành hai nhân vật, hai thân phận. Khi sao -giờ sao đây là hai khoảng thời gian cách biệt khác nhau cộng lại là nỗi chua xót đắng cay tủi thân đến vô bờ:

Mặt sao dày gió dạng sương

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

Biểu hiện tại dày gió dạn sương nỗi buồn chán tăng lên gấp bội. Nói đến mặt là nói đến tâm hồn, thế mà giờ đây mặt trơ trơ. Nàng nhớ đến hành vi đã qua cay đắng tủi nhục khôn cùng chỉ khi tâm hồn chết theo thì Kiều mới sống được ở chốn lầu xanh này mà chi có thể quên đi những gì êm đềm tốt đẹp trước đây, một thời trướng phủ màn che quên đi bản thân mình thì Kiều mới có thể tồn tại được trong xã hội này. Như vậy sống trong cái xấu Kiều ý thức được cái xấu chứng tỏ lòng Kiều luôn hướng về cái tốt. Chạy trốn hiện thực không được Kiều đành lòng quay về với thực tại. Nguyễn Du miêu tả khung cảnh nơi Kiều sống:

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.

Ai tri âm đó mặn mà với ai”.

Khung cảnh thiên nhiên nơi Kiều sống sang trọng tươi đẹp có đủ phong tuyết nguyệt hoa. Nơi Kiều sống có gió vi vu thổi có hoa đua nhau khoe sắc có trăng thu vằng vặc có tuyết giăng. Cảnh đẹp bốn mùa hội tụ nơi đây. Ở chốn thanh lâu còn có đủ các thú vui tao nhã như: Cầm kì thi họa. Các thú vui đó tô điểm cho bức tranh  thêm sống động. Nhìn bề ngoài cứ tưởng đây là chốn Bồng Lai tiên cảnh.  Tài của Nguyễn Du thể hiện ở việc dùng cảnh vật để diễn tả nội tâm của con người.

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Kiều gần cái đẹp mà không thưởng thức được vẻ đẹp. Sống trong cuộc vui mà không tận hưởng được niềm vui vì “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tâm trạng con người chi phối cảnh vật. Bằng sự thông cảm, bằng tài năng kì diệu Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ rất hay diễn tả mối quan hệ giữa cảnh và tình. Nỗi thương mình của Thuý Kiều có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc xét về sự tự ý thức của con người cá nhân trong lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại. Người phụ nữ xưa được giáo huấn theo tinh thần cam chịu, nhẫn nhục, buông xuôi. Khi con người biết “Giật mình mình lại thương mình xót xa” thì không còn nhẫn nhục cam chịu nữa mà đã ý thức rất cao về phẩm giá và nhân cách bản thân, ý thức về quyền sống của bản thân.

Thông qua việc miêu tả đoạn trích Kiều tự thương mình Nguyễn Du đã đặc biệt thành công trong việc miêu tả tâm trạng của Kiều. Thiên nhiên với con người làm một, cảnh hòa với tình, Nguyễn Du có được thành công ấy là do tác giả đã vận dụng sự hiểu biết của mình về cuộc đời trong việc xây dựng, khám phá nội tâm nhân vật như nghệ thuật sử dụng từ ngữ một cách chính xác, lựa chọn, sáng tạo hình ảnh phù hợp với hoàn cảnh. Khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện lòng thương cảm sâu sắc đối với nhân vật đồng thời qua đó tác giả cũng lên án, phê phán xã hội một cách sâu sắc.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 4

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 3

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 4

Sau khi Thúy Kiều đánh tiếng sẽ bán mình để chuộc cha ra khỏi chốn ngục tù, Mã Giám Sinh nhờ mối lái dẫn đến, giả danh cưới Kiều làm vợ lẽ. nhưng thực ra y mua nàng về cho nhà chứa của Tú Bà. Khi biết mình bị lừa, Thúy Kiều quyết liệt chống lại âm mưu tàn ác của chúng. Nàng rút dao định tự sát, nhưng không chết. Trong cơn mê, Thúy Kiều thấy hồn Đạm Tiên hiện về báo cho biết nàng chưa thoát được số đoạn trường nên đành phải nghe lời dỗ dành của Tú Bà ra tạm ở lầu Ngưng Bích. Sở Khanh, tên tay sai của Tú Bà đã lập mưu rủ nàng đi trốn. Kiều nhẹ dạ nghe theo, bị Tú Bà bắt về đánh đập rất dã man và buộc nàng phải tiếp khách.

Đoạn trích Nỗi thương mình từ câu 1229 đến câu 1248 của Truyện Kiều miêu tả tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức về thân phận bất hạnh của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh. Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ: Đoạn 1 (từ Biết bao đến tối tìm Trường Khanh): Giới thiệu cảnh trớ trêu của Kiều. Đoạn 2 (từ Khi tỉnh rượu đến nào biết có xuân là gì): Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều trong hoàn cảnh sống nhục nhã ở lầu xanh. Đoạn 3 (từ Đòi phen đến mặn mà với ai): Tả cảnh để diễn tả nỗi cô đơn, đau khổ đến tột cùng của Kiều.

Điểm đặc thù của đoạn trích này là tác giả viết về tình cảnh, tâm trạng của Thúy Kiều khi bị buộc làm kĩ nữ tiếp khách làng chơi. Nguyễn Du phải đối diện với một thực tế phũ phàng là xã hội vạn ác đã đồn đẩy nhân vật mà ông trân trọng, yêu mến vào chốn thanh lâu. Làm thế nào để vẫn phản ánh được sự thật mà không hạ thấp nhân vật. vẫn thể hiện được thái độ cảm thông của mình và nói lên được sự đau khổ, thương thân xót phận của nhân vật. Nguyễn Du phát huy mặt mạnh của bút pháp ước lệ cùng nghệ thuật sử dụng ngôn từ chọn lọc vừa phù hợp vừa chính xác để giải quyết vấn đề nan giải này. Nguyễn Du đã miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng:

Dập dìu lá gió cành chim,

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.

Những ẩn dụ như bướm lả, ong lơi, lá gió, cành chim, hình ảnh cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm và cả điển tích văn chương về Tống Ngọc, Trường Khanh, hai vị khách phong lưu nổi tiếng đã khắc họa được cảnh sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Giữa cái không khí ồn ào, náo nhiệt, lả lơi, dập dìu, sớm đưa, tối tì ra ấy, nổi bật lên hình ảnh một nàng Kiều cô đơn, buồn tủi.

Các hình thức đối xứng trong câu như bướm lả / ong lơi, lá gió / cành chim được Nguyễn Du khai thác triệt để nhằm tô đậm nỗi thương thân, xót phận của Thúy Kiều và gây cảm giác đau đớn. Xót xa thực sự cho người đọc. Bốn câu thơ đầu vừa là bức tranh sinh hoạt nhơ nhớp chốn thanh lâu vừa ẩn chứa tiếng thở dài não ruột của người con gái tài sắc buộc phải làm kĩ nữ. Tác giả xót thương Thúy Kiều rơi vào chốn bùn nhơ, nơi nhân phẩm bị hủy hoại, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đó, Thúy Kiều đã ý thức rất rõ về nhân phẩm cao quý của mình.

Thúy Kiều là một người con gái được Nguyễn Du xây dựng trở thành hình mẫu lí tưởng của cái đẹp, cái thiện. Khi lâm vào tình cảnh ô nhục mà nàng chưa từng nghĩ đến. Thúy Kiều đã cố vùng vẫy để được giải thoát, nhưng càng vùng vẫy lại càng bế tắc. Nỗi đau “trần thế’’ đối với một người Mai cốt cách, tuyết tinh thần như Thúy Kiều dường như nhân lên gấp bội: vì hơn ai hết, nàng không bao giờ chấp nhận cuộc sống sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh. Do đó, khi thể hiện tâm trạng Thúy Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du đã dồn hết cảm xúc xót thương vào ngòi bút. Nhà thơ đã thể hiện thật chân tình tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều khi phải đối diện với chính lòng mình:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Sống trong cảnh cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm thi chỉ khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Kiều mới có những khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với mình. Lúc khách làng chơi đã ra về hết, đêm rất khuya, chỉ còn một mình Kiều đối diện với ngọn đèn chong. Nhịp thơ 3/3 như gợi từng bước đi chậm chạp của thời gian. Thời gian và không gian vắng lặng, cô liêu càng gợi nỗi niềm cay đắng, xót xa trong dạ người con gái đang lênh đênh, lưu lạc nơi đất khách. Đến câu thứ hai, nhịp thơ thay đổi thành 2/2/2/2: giật mình / mình lại / thương mình / xót xa. Hai chữ giật minh kết. hợp với cách ngắt nhịp đột ngột diễn tả tâm trạng thảng thốt của Thúy Kiều. Từ mình mang thanh bằng nhưng không gợi sự nhẹ nhõm mà gợi cảm giác nặng nề bởi nó được lặp lại tới ba lẩn trong một câu thơ có nhịp điệu thổn thức, như tiếng nấc nghẹn ngào khi cố ghìm tiếng khóc.

Thúy Kiều giật mình sợ hãi trước sự đổi thay ghê gớm của số phận và tình cảm thảm hại của mình lúc này. Hai câu thơ tả tâm lí trên có thể coi là tuyệt bút. Nhịp điệu, âm hưởng và phép điệp từ kết hợp hài hòa, tự nhiên đã diễn tả thật chính xác tâm trạng trĩu nặng sầu thương của Thúy Kiều. Đêm khuya thanh vắng, nỗi sầu thương ấy như hiện rõ thành hình, thành khối là Thúy Kiều bằng xương bằng thịt. Đọc hai câu thơ trên, ai cũng phải ngậm ngùi rơi lệ.

Nỗi thương mình là cảm xúc bao trùm trong đoạn trích. Thúy Kiều buộc phải xa cha mẹ, xa tổ ấm để bước lên cỗ xe định mệnh: vó câu khấp khểnh, bánh xe gặp ghềnh, lao đi trên con đường mịt mù, vô định. Nàng chấp nhận: Thôi đành nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu nhưng không thể ngờ rằng mình lại rơi vào chốn hang hùm đầy những kẻ bán thịt buôn người trâng tráo và đê tiện. Nàng đang phải sống trong cảnh Chán trời góc biển bơ vơ, không nơi nương tựa, không người an ủi, vỗ về, chia sẻ cho vơi bớt nỗi đau cô độc giữa lũ quỷ mặt người nên Kiều có cảm giác mình lại thương mình xót xa là vậy!

Nguyễn Du không chỉ dừng lại ở mức “đọc” được tâm trạng Thúy Kiều mà sâu hơn thế, thi sĩ thực sự rung động trước nỗi khổ tâm của nàng, đồng thời truyền sự rung động mãnh liệt ấy đến trái tim, khối óc người đọc, tạo nên mối dây đồng tình, đồng điệu. Thúy Kiều cay đắng nghĩ tới sự tương phản ghê gớm giữa quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc và hiện thực đen tối, phũ phàng:

Nàng nhớ lại cảnh sống quý phái, sang trọng khi còn ở nhà với cha mẹ trước lúc xảy ra tai họa và thương tiếc thân mình vì vùi dập tan tác như hoa giữa đường. Những hình ảnh, từ ngữ đối lập đã đặc tả tâm trạng đau đớn, tủi hổ ê chề của Kiều. Quá khứ đối lập hiện tại một cách khốc liệt. Dĩ vãng tươi đẹp chỉ được gợi lên qua một câu: Khi sao phong gấm rủ là, còn hiện tại đen tối được nhắc đến liên tiếp trong nhiều câu thơ. Trước kia, Kiều được nâng niu quý trọng bao nhiêu thì bây giờ nàng bị vùi dập phũ phàng bấy nhiêu. Sao là từ nghi vấn nhưng lại mang tính chất cảm thán, vừa được dùng trong hình thức đối vừa được dùng ở hình thức điệp: Khi sao, giờ sao, mặt sao, thân sao kết hợp với các thành ngữ mà từ ghép, từ láy được xé lẻ rồi đan chéo vào nhau như: dày gió dạn sương, bướm chán ong chường tạo nên giọng thơ mà nỗi đau đớn ê chề như thấm đẫm trong từng câu, từng chữ.

Đằng sau những ngôn từ, hình ảnh ước lệ hoa mĩ ấy là cơn uất hận không nguôi, là những câu hỏi day dứt, dằn vặt muốn vang vọng tới trời xanh. Bất công thay, trớ trêu thay là Trời già tai ác! Thực ra, tạo hóa chẳng nỡ đày đọa Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn, mà chính là các thế lực tàn ác trong xã hội đã dìm nàng xuống bùn đen. Tuy nhiên, thái độ của Kiều là không buông mình theo dòng đục, bởi nàng cảm nhận sâu sắc về phẩm giá của mình và nỗi tủi nhục của người lương thiện bị vùi dập, đọa đày. Tác giả tả tâm trạng của Kiều ở chốn lầu xanh:

Mặc người mưa Sở mây Tần,

Những mình nào biết có xuân là gì.

Cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: xuân có hoa; hè có gió; thu có trăng; đông có tuyết. Nhưng trước những cảnh đẹp đó, Kiều dửng dưng, thờ ơ bởi con tim nàng đã bị nỗi đau khổ quá mức làm cho giá lạnh. Ở lầu xanh cũng có đủ các thú vui như cầm, kì, thi, họa, nhưng đối với Kiều thì cảnh vật, con người và những thú vui ấy giờ đây đối với nàng đều trở nên vô nghĩa.

Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, không chỉ có quá khứ đối lập với hiện tại mà bản thân cuộc sống hiện tại cũng chứa đựng sự đối lập. Cuộc đời kĩ nữ nhìn bề ngoài tưởng thanh cao, tao nhã: Đòi phen nét vẽ câu thơ, cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa; Đòi phen gió tựa hoa kề, nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu, nhưng thật là mỉa mai khi sự nhơ nhớp bẩn thỉu được che đậy bằng vẻ ngoài thơ mộng và hào nhoáng. Sự đối lập ấy Kiều đã nhận ra bằng trái tim nhạy cảm của mình. Những từ gượng, thờ ơ, ngẩn ngơ thể hiện tâm trạng chẳng mặn mà, thậm chí bẽ bàng của Kiều trước thực tại. Một người vốn trung thực như Kiều mà lại phải vui là vui gượng để chiều khách làng chơi thì nỗi tủi, nỗi sầu càng sâu sắc, thấm thía hơn. Tưởng chừng như nỗi sầu từ lòng người lan tỏa sang cả cảnh vật:

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Bằng sự thông cảm thực sự và bằng tài năng kì diệu. Nguyễn Du đã viết lên hai câu thơ hay nhất về mối liên hệ tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình trong văn chương Việt Nam. Đoạn trích Nỗi thương mình chứa đựng ý nghĩa sầu sắc về quá trình tự ý thức của con người cá nhân trong văn học trung đại. Người phụ nữ xưa thường được giáo dục theo tinh thần an phận thủ thường, cam chịu và nhẫn nhục. Khi nhân vật Giật mình mình lại thương mình xót xa thì điều này đã bao hàm ý nghĩa “cách mạng” Con người không chỉ biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà bước đầu đã có ý thức về phẩm giá, nhân cách, tức là ý thức về quyền sống của bản thân.

Đoạn thơ đầy chất bi thương nhưng lại không hề yếu đuối. Từ bên trong nó toát lên ánh sáng của phẩm chất cao quý và chính cái bi thương ấy lại là lời tố cáo mãnh liệt tội ác của xã hội bất nhân đã chồng chất bao nhiêu đau khổ lên một kiếp người. Người đọc xót xa căm giận cái xã hội vạn ác và càng cảm phục, yêu thương khôn xiết người con gái tài hoa mà bất hạnh – Thúy Kiều.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 2

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 3

Đoạn trích Nỗi thương mình là tâm trạng xót xa, ê chề của nàng Kiều khi rơi vào hoàn cảnh éo le đầy nhục nhã tại lầu Ngưng Bích và bắt đầu những ngày tháng trở thành kỹ nữ, chứng kiến cảnh mua vui trụy lạc, mà rớt nước mắt xót thương “Đau đớn thay cho phận đàn bà/Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Đoạn trích nằm từ câu 1229 đến câu 1248, trong phần Lưu lạc của Truyện Kiều.  Bắt đầu khi Mã Giám Sinh đưa Kiều về đến lầu xanh của Tú Bà, Kiều biết mình bị lừa, để tránh thoát số kiếp kỹ nữ mua vui, Kiều bèn nhắm mắt định quyên sinh nhưng không chết, lại được Đạm Tiêm báo mộng nàng vẫn chưa thoát khỏi sổ đoạn trường. Đành lòng Kiều nhẫn nhục ra ở tạm lầu Ngưng Bích, rồi mắc mưu của Sở Khanh, bỏ trốn không thành, bị Tú Bà bắt về đánh đập dã man và lấy cớ ép Kiều tiếp khách.

Mở đầu là cảnh chốn lầu xanh ăn chơi hoang lạc, hoàn toàn xa lạ, ngoài sức tưởng tượng của nàng Kiều. Với “bướm lả, ong lơi”, đầy dung tục tầm thường, hành động suồng sã, trêu ghẹo của khách làng chơi cùng với những bóng hồng lả lướt mời gọi của kỹ nữ, như ong vờn bướm đầy ngả ngớn. Không gian ngập tràn trong ánh đèn nến đỏ đỏ hồng hồng, cùng những “trận cười suốt đêm”, cùng với hương rượu nồng đượm từ “cuộc say đầy tháng”, không phân biệt ngày đêm, ồn ào, buông thả và náo nhiệt. Hình ảnh nam nữ vốn chẳng quen biết “dập dìu” tựa sát vào nhau như “lá gió, cành chim”, rồi cảnh kỹ nữ tiếp khách suốt ngày đêm, chẳng phân biệt ai ra ai, công việc cứ tuần hoàn không có điểm dừng, đến nỗi họ quên mất cả bản thân mình là ai.

Nguyễn Du đã rất tài tình khi đưa hai nhân vật trong điển tích văn chương là Trường Khanh, Tống Ngọc, vốn nổi danh với tính phong lưu, thích tầm hoa vấn liễu để giúp người đọc thấy được Kiều tiếp những đối tượng thường là phong lưu tài tử. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn gọn, súc tích, tác giả đã khắc họa rõ nét cuộc sống nhơ nhớp, trụy lạc ngập tràn sắc dục và ê chề nơi lầu xanh, nơi phụ nữ được xem là thứ đồ mua vui, thỏa mãn thói hoang lạc tầm thường của những kẻ lắm tiền nhiều của. Cũng chính trong đoạn thơ này, dưới tầm mắt quan sát thấu đáo của Kiều, cho thấy nàng có ý thức rất cao về nhân phẩm cũng như thân phận của mình.

Kiều vốn được Nguyễn Du xây dựng như một hình mẫu người phụ nữ lý tưởng tài sắc vẹn toàn, nhưng xót xa thay “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, một con người thanh cao trong trẻo đến vậy, số mệnh lại đẩy đưa vào nơi nhơ nhấp, tầm thường nhất. Kiều vùng vẫy, chống lại số phận, không chấp nhận làm một kỹ nữ dơ bẩn mặc người chơi đùa, ở nàng hiện lên cái đức tính cao đẹp của loài hoa sen thuần khiết “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhưng Kiều bất lực trước hoàn cảnh éo le của mình, Kiều buộc phải chấp nhận sự thật, tự khóc thương cho bản thân.

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình lại thấy thương mình xót xa”

Kiều đã cố quên đi nỗi đau đớn tủi nhục, trong men rượu, nhưng có ích gì khi, canh tan rượu tàn, còn lại tấm thân rã rời, đến Kiều cũng phải “giật mình” mà tự “thương mình xót xa”. Nhịp thơ trong câu lục, là nhịp 3/3 chậm rãi, nhịp nhàng, diễn tả cuộc sống chán chường, đằng đẵng vô tận, đến câu bát thì nhịp thơ 2/2/2/2 nhanh hơn, Kiều bàng hoàng tỉnh lại, nhận lấy nỗi đớn đau tận tâm can, như vặn xoắn lấy tâm hồn. Những câu thơ tiếp là dòng hồi tưởng đầy xót xa, chua chát của Kiều khi so sánh cuộc sống nhung gấm, thanh cao trước đây cùng với thực cảnh tủi nhục, nhơ nhớp chốn lầu xanh, ong bướm lả lơi.

Nhớ khi xưa kia khi còn là tiểu thư đài các, cầm kỳ thi họa môn nào cũng tinh thông, lại được sống trong “phong gấm rủ là”, là viên minh châu, được cha mẹ nâng niu, chiều chuộng, thân ngọc ngà chẳng nhiễm một hạt bụi trần. Nhưng nay hiện thực tàn khốc, Kiều tự ví tấm thân “tan tác như hoa giữa đường”, một đóa Mẫu đơn xinh đẹp nay bị chốn lầu xanh vùi dập không thương tiếc. Ngày trước, nàng nào phải lộ mặt tiếp xúc với nam tử, hay người lạ bao giờ, còn nay thì “Mặt sao dày gió dạn sương”, đã chẳng còn biết xấu hổ, hay e lệ phép tắc, lễ nghĩa, bởi trong chốn phong nguyệt này những thứ đó thật nực cười.

Chính Kiều cũng cảm thấy tấm thân mình chẳng còn trong sạch, vốn đã “bướm chán ong chường”, rẻ mạt đến thế. Để thấy được Kiều đã có một cuộc sống đày đọa, vừa ê chề nhục nhã về thể xác, vừa tủi hổ trong tâm hồn, buồn xót cho một số phận tài hoa nhưng mệnh đời bạc bẽo quá. Việc Nguyễn Du sử dụng các thành ngữ lồng ghép, đan chéo vào nhau càng tăng thêm sức biểu cảm, từng câu từng chữ như ghim vào lòng người đọc, thấm đượm nỗi xót thương cho số phận của nàng Kiều tội nghiệp.

“Mặc người mưa Sở mây Tần,

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.”

Nhưng dù xã hội có cố vùi dập nàng xuống lớp bùn hôi tanh, dù tấm thân nàng đã vướng bụi đời, nhưng tâm hồn hồn nàng vẫn thanh khiết, giữ vững cốt cách của loài sen trắng. Kiều thờ ơ với mọi cuộc hoan lạc “mưa Sở mây Tần”, nàng chẳng lấy gì làm vui thú, có gì để vui đây? Khi những khách làng chơi muốn “gió tựa hoa kề”, cho gần gũi thân mật, nhưng thật giả dối và ghê tởm quá. Lòng Kiều như chết lặng, Kiều không phản kháng, cũng không còn muốn phản kháng, bởi đau đớn và tủi đã cướp đi hồn nàng, Kiều chỉ đang tồn tại, tồn tại giữa chốn lầu xanh phồn hoa nhất, cũng thấp kém nhất. Cảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt đẹp đẽ có đủ cả, nhưng cũng chẳng thể che lấp đi sự nhơ nhớp, trụy lạc của chốn phong trần phóng túng.

Hỏi chăng trong lòng vốn đã đau xót, buồn tủi thì cảnh có đẹp tuyệt trần đi chăng nữa, thì người cũng có vui được không? Thế Nguyễn Du mới có câu thơ: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/Người buồn cảnh cũng vui đâu bao giờ?”. Tâm trạng u uất của Kiều dường như lan tràn sang cả cảnh sắc xung quanh, nơi đây cũng nào thiếu những thú vui cầm, kỳ, thi, họa, cũng thanh tao cao nhã một cách đầy mỉa mai, khi chốn dung tục mà cũng “Đòi phen nét vẽ câu thơ/Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”.

Chính vì vậy lòng Kiều càng không vui nổi, có chăng là cái cười gượng gạo “Vui là vui gượng kẻo là”. Cười ở đây là nụ cười chua chát, mặn đắng bờ môi, chắc rằng lòng Kiều đang nhỏ lệ, có câu buồn quá hóa cười, cười vì số phận trêu ngươi, cười vì chán chê cái thân phận phụ nữ đầy ngang trái, trắc trở. Nỗi đau khổ của Kiều qua đoạn thơ này được Nguyễn Du thể hiện bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, càng thêm thấm thía, sâu sắc hơn trong từng câu chữ. Câu thơ cuối như một lời hỏi bâng quơ “Ai tri âm đó mặn mà với ai?”, Kiều chẳng mong câu trả lời, bởi trong chốn phong trần này, sẽ chẳng ai thấu hiểu cho nỗi đau này của nàng.

Đoạn trích là niềm thương cảm cho số phận của nàng Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn mà bạc mệnh. Bao trùm không khí là sự buồn tủi, xót xa nhưng không bi lụy, yếu đuối. Những dòng thơ của Nguyễn Du đều thể hiện một tấm lòng thương yêu, đồng cảm, và đề cao phẩm cách đáng quý của nàng Kiều, trong trắng, thanh khiết như một đóa hoa sen giữ chốn bùn lầy nhơ nhớp của xã hội phong kiến bấy giờ. Nguyễn Du thông qua đó tố cáo tội ác, sự bẩn thỉu của một xã hội mục nát đã tàn phá, vùi dập những con người khốn khổ, đáng thương vào tận đáy của xã hội, trong đau đớn tủi nhục, đặc biệt là những người phụ nữ chân yếu tay mềm, không thể phản kháng, không có tiếng nói.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 1

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 2

Sau biến cố gia đình, Kiều bán thân làm lẽ cho Mã Giám Sinh để cứu cha và em, đồng thời gửi lại mối duyên của mình với Kim Trọng cho Thúy Vân, những tưởng bấy nhiêu sự hy sinh ấy của Kiều đã là đến tột cùng, thế nhưng phận đời éo le, thích trêu đùa kiếp hồng nhan bạc mệnh. Kiều bị Mã Giám Sinh lừa bán vào lầu Ngưng Bích, trở thành kỹ nữ, khiến cuộc đời nàng thật sự đi vào bi kịch kinh hoàng. Sau lần tự tử và bỏ trốn không thành Kiều bị Tú Bà buộc phải tiếp khách, dần trở thành người kỹ nữ phong trần trong nỗi xót xa và tủi nhục khôn cùng.

Số phận nổi trôi của nàng Kiều khiến độc giả không khỏi thương cảm, đớn đau đúng với câu “Đau đớn thay phận đàn bà/Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Mà ở đây hơn ai hết Thúy Kiều chính là người ý thức được rõ nhất cảnh ngộ éo le của kiếp kỹ nữ trong đoạn trích Nỗi thương mình.

Mở đầu đoạn trích đó là khung cảnh chốn lầu xanh ong bướm trụy lạc, hình ảnh “bướm lả ong lơi” gợi ra viễn cảnh vô cùng dung tục, ví kỹ nữ như là những bông hoa tươi đẹp, còn khách làng chơi lại tựa như loài ong loài bướm, lả lơi, ngả nghiêng hết vờn đóa hoa này, lại chạm đến bông hoa kia, hết sức tạp nham, lẫn lộn và hoang đường. Trong chốn mua vui ấy người ta chỉ thấy hương rượu nồng quyện với mùi hương phấn dung tục với “cuộc say đầy tháng”, với sự khoái lạc của “trận cười suốt đêm”, nam nữ thâu hoan không kể ngày đêm, ồn ào, náo nhiệt và trụy lạc. Mà người phụ nữ ở chốn phong trần lại trở thành thứ đồ chơi cho kẻ khác mua vui, ai đến ai đi nhiều không kể xiết, vốn là những người xa lạ thế nhưng lại có thể hiện ra những hình ảnh “dập dìu” nam nữ cười đùa, ngả ngớn, đầu sát bên đầu, má ấp bên má tựa như lá với gió, cành với chim.

Người kỹ nữ ngày đêm tiếp khách cũng chẳng phân biệt sáng tối, ngày hay đêm, khách đến là ai, già hay trẻ, xấu hay đẹp, nhân phẩm, tính cách ra sao, thứ họ trao đổi chỉ là thú vui xác thịt và đồng tiền rẻ rúng, riết rồi chẳng còn nhận ra bản thân mình là ai nữa. Mà trong đoạn trích để khắc họa hình ảnh khách làng chơi Nguyễn Du đã tinh tế đưa vào hai nhân vật có thật trong lịch sử, một là Tống Ngọc nổi danh với bài Phú Cao Đường kể chuyện mây mưa của nữ thần Vu Sơn với tiên vương nước Sở, ý chỉ chuyện nam nữ hoan lạc. Hai là Trường Khanh tên tự của Tư Mã Tương Như, người gảy một khúc Phượng cầu Hoàng để quyến rũ Trác Văn Quân, một quả phụ nhan sắc tuyệt trần, cũng ý chỉ loại khách phong lưu, giỏi chuyện trăng gió.

Như vậy từ những hình ảnh ẩn dụ tinh tế thông qua cách điển tích điển cố, tác giả đã tái hiện một cách tài tình khung cảnh chốn lầu xanh nhuốm màu sắc dục, cuộc sống nhơ nhớp, hỗn loạn và hoang đường của những con người nơi đây. Mà ở đó người phụ nữ trở thành thú vui, thứ đồ chơi tùy cho những kẻ có tiền sử dụng phục vụ cho những sở thích dung tục, tầm thường. Dẫu rằng chốn lầu xanh ngày ngày giăng đèn kết hoa, thế nhưng cuộc đời của người kỹ nữ luôn chìm trong tăm tối, tủi nhục và đầy xót xa cay đắng.

Còn bản thân Kiều, vốn là một tiểu thư khuê các, nào đâu biết chuyện gió trăng, tâm hồn vốn thanh cao trang nhã, tài sắc vẹn toàn, vốn tưởng sẽ phải xứng có được cuộc sống phú quý, được nâng niu cưng chiều. Thế nhưng dòng đời vốn dĩ “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, ai ngờ được sóng gió lại đẩy cuộc đời Kiều đi vào chỗ địa ngục trần gian, nhơ nhớp, dung tục đến tận cùng là lầu xanh. Ở chốn ấy Kiều đã cố hết sức mình vùng vẫy, chống cự thậm chí tìm đến cái chết, nhưng vẫn không thể thoát khỏi số phận ê chề, nhục nhã. Thế rồi sau mỗi cuộc “vui”, Kiều quay về nhìn lại tấm thân tàn tạ, lại ý thức được thân phận bọt bèo, nàng không khỏi xót xa, tự khóc thương cho bản thân mình.

Hai câu thơ ấy khiến người ta chợt nghĩ đến hai câu thơ của Hồ Xuân Hương rằng “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”, cũng là nỗi đớn đau cho thân phận phụ nữ, là nỗi chán chê, xót xa cho cuộc đời hồng nhan, lấy rượu để tạm quên đi nỗi đắng cay, thế nhưng lúc tỉnh thì nỗi đau ấy lại càng trở nên thấm thía và rõ ràng. Thế nhưng khác với việc Hồ Xuân Hương tự chuốc say mình để được quên sự đời, thì bản thân Thúy Kiều lại bị buộc phải say, chén đi chén lại với đủ loại khách làng chơi, ngày này qua tháng nọ, hiếm có lúc giở rượu, tỉnh giấc khi cuộc vui đã tàn, người đã tan. Kiều mới chợt giật mình, bàng hoàng  nhìn lại tấm thân tàn, mà tự thấy xót xa, thương cảm đến quặn thắt cả tâm hồn.

Nỗi đau của Kiều lại càng được bộc lộ rõ nét hơn trong những câu thơ ý thức về thân phận bọt bèo. Nhắc lại chuyện “Khi sao phong gấm rủ là”, là nhắc về cuộc sống êm đềm trướng rủ màn che thuở trước, khi Kiều còn được sống trong sự bảo bọc của cha mẹ, nào có biết đến chốn phong trần với nỗi ê chề, xót xa đến tận cùng này. Trái ngược hẳn với mộng đẹp trong quá khứ, Kiều bây giờ buộc phải đối mặt với một cuộc sống cũng trướng rủ màn che đấy, nhưng lại chìm trong những ngày tháng sắc dục, buôn phấn bán hương cho kẻ chơi đùa thỏa thích, ngày ngày nở nụ cười giả tạo, lấy lòng người không quen biết.

Mà Kiều tự nhận thấy bản thân mình ứng với mấy chữ “tan tác như hoa giữa đường”, vốn là đóa mẫu đơn cao quý, trong sạch, cuối cùng lại trở thành nơi của biết bao “bướm lả ong lơi”, bị chà đạp không thương tiếc, chỉ còn lại bộ dạng tàn tạ, nhơ nhuốc. Khuôn mặt khi xưa vốn dĩ ngại ngùng, e ấp, quạt hương che nửa mặt, ôm ấp chốn khuê phòng, thì nay phải ngày ngày chường ra cho kẻ Bắc người Nam, ngắm nghía, bình phẩm, phải “dày gió dạn sương” ôm ấp nam tử như người tình, điệu bộ lả lướt, ngả ngớn, chiều lòng. Nghĩ lại bản thân Thúy Kiều chỉ còn có thể thốt lên lời thở than chua xót “Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”, là ý thức của nàng về tấm thân tàn tạ, rẻ mạt của mình. Từ đó độc giả dễ dàng nhận ra cuộc sống tủi hổ, nhục nhã đau đớn tột cùng về cả thể xác và tinh thần của nàng Kiều tội nghiệp.

Thế nhưng dẫu cuộc đời có chà đạp, vùi dập phận liễu yếu đào tơ, thì Kiều vẫn mạnh mẽ kiên cường, giữ vững cho mình cốt cách thanh cao, tinh khiết tựa loài sen trắng trong đầm nước “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Dẫu bốn bề chốn lầu xanh nơi nào cũng “mây Sở mưa Tần” thì nàng cũng chẳng buồn để tâm đến, những thú vui hoan lạc, tầm thường ấy cũng chẳng đánh động được vào tâm hồn vốn đã chết lặng từ lần đầu bước chân vào nơi đây. Với những ai khác cuộc vui thâu đêm suốt sáng là “xuân” còn với nàng những thứ ấy vốn chẳng lọt vào tầm mắt, cũng chẳng thiết tha gì. Gặp cảnh khách làng chơi muốn “gió tựa hoa kề”, muốn gần gũi xác thịt mà lòng nàng như chết lặng, có lẽ bấy nhiêu đắng cay, tủi nhục đã khiến Kiều hoàn toàn buông xuôi, mặc cho cuộc đời trôi nổi giữa chốn phong, hoa, tuyết, nguyệt rực rỡ, thơ mộng nhưng ẩn chứa là sự dung tục, tầm thường này.

Người sống trong cảnh đớn đau thể xác, tàn tạ tâm hồn, thì nào có thể vui tươi được dẫu rằng đèn hoa giăng lối, tiếng cười muôn nơi, rượu ngon mỹ thực ngập tràn? Thế nên Nguyễn Du mới viết hai câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/Người buồn cảnh cũng vui đâu bao giờ?”, để diễn tả đúng cái hoàn cảnh éo le, buồn tủi của Thúy Kiều. Nực cười làm sao chốn phong trần nhơ nhớp mà cũng “Đòi phen nét vẽ câu thơ/Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”, để thỏa mãn cái đám người dung tục tầm thường, nhưng vẫn muốn thể hiện mình là kẻ có văn hóa, tao nhã với thú vui cầm, kỳ, thi, họa thanh cao.

Thúy Kiều vốn là người thông minh, sắc sảo ca từ thi phú âm luật có cái nào mà không thông, nhưng nhìn viễn cảnh trước mắt, lại nhìn tới số phận bọt bèo của mình thì những thứ mà nàng yêu thích trước đây cũng trở nên tẻ nhạt, chán chường. Đặc biệt trong chốn phong trần này, tài nghệ của nàng lại trở thành một cái gì đó rất là trêu người, tài sắc vẹn toàn như thế mà cũng nào có tránh khỏi được kiếp long đong, ô nhục đâu? Lòng Kiều đã chết cái vui cũng chỉ là gượng cho có, để chiều lòng kẻ đến người đi, chứ chẳng thiết tha mặn mà, lại nghĩ đến việc ngày ngày gặp bao nhiêu kẻ mến mộ, thèm khát nhan sắc, tài năng của mình, nhưng liệu tìm đâu ra kẻ “ai tri âm đó mặn mà với ai” hay cũng chỉ là một phút thoáng qua. Điều đó càng làm cho Kiều trở nên chán nản, xót xa đến tột cùng.

Đoạn trích Nỗi thương mình là nỗi thương cảm xót xa cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh của Thúy Kiều, người phụ nữ tội nghiệp bị xã hội phong kiến vùi dập không thương tiếc, đến mức chết lặng cả tâm hồn vì quá đớn đau. Thông qua đoạn trích ta cũng thấy rõ được tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du khi thấu hiểu và thông cảm cho nỗi đau của Thúy Kiều, đồng thời trân trọng và đề cao giá trị nhân phẩm tốt đẹp của nàng Kiều, dẫu có chìm trong chốn dung tục tầm thường nhưng vẫn giữ được một tâm hồn thanh khiết, không bị sa đà trong lối sống trụy lạc, hoang đường.

Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” số 1

Trong chốn lầu xanh nơi mà tất cả đều phù phiếm, đồng tiền lên ngôi, Kiều vẫn cố gắng tách mình ra, tìm một tâm hồn tri âm, thể hiện khát vọng sống trong sạch của Kiều mà ta thật sự đáng trân trọng. Nguyễn Du đề cao giá trị nhân văn, cảm thông sâu sắc với số phận của Kiều và lên án xã hội gay gắt.

Đăng bởi: Phạm Tuấn

Từ khoá: 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Nỗi thương mình” trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Khái Quát Về Điển Cố Là Gì ? Nghĩa Của Từ Điển Cố Trong Tiếng Việt

Điển cố (từ Hán Việt 典故)[1] nghĩa là những tích truyện xưa (cũng gọi là điển tích); thường là kể về các tấm gương hiếu thảo, anh hùng liệt sĩ, các tấm gương đạo đức, hoặc những truyện có tính triết lý nhân văn trong lịch sử, những câu thơ, văn kinh điển trong các tác phẩm văn học có trước (thường là của Trung Quốc)

Trong văn hoá truyền thống, người ta cho rằng nhìn người chính là một cách để tự soi xét mình, rằng lấy những điển tích kinh điển trong lịch sử làm tham chiếu để luận giải là một cách rất tốt để làm sáng tỏ cái ý mà mình muốn biểu đạt. Do vậy, việc nhắc đến điển cố trong thơ và văn được sử dụng nhiều; cũng được xem như một chuẩn mực.

Ví như trong câu thơ Một nền Đổng Tước khoá xuân hai Kiều, thi hào Nguyễn Du đã nhắc đến điển cố hai chị em Kiều thời Tam Quốc.

Thời hiện đại, cùng với hàng loạt cách mạng công nghiệp, thương nghiệp, hiện đại hoá, tin học hoá,… con người thay đổi tư tưởng, các giá trị nhân văn cũng thay đổi, dẫn đến việc sử dụng điển cố về điển tích cổ như trên đã trở nên ít đi rất nhiều. Ngày nay người ta bớt dần việc nhắc đến mẫu hình nhân vật cổ, ví như Nhạc Phi như là thể hiện của chữ Trung, Quan Vũ như là thể hiện của chữ Nghĩa, v.v. Mà thêm vào đó những mẫu hình hiện đại, như Chí Phèo, Ô-sin, v.v.

Đương nhiên, vẫn còn nhiều các tích cổ, các mẫu hình nhân vật cổ mà văn và thơ ngày nay tham chiếu đến, ví như: Tế Công ăn thịt, Hàn Tín chui háng, Tào Tháo luận anh hùng, Nữ Oa vá trời, Hoạn Thư, Sở Khanh, v.v.

Tính liên tưởng: Thể hiện qua sự mối liên hệ giữa nghĩa trực tiếp của điển cố với hiện thực văn cảnh.

Đang xem: điển cố là gì

Chẳng hạn trong “Truyện Kiều” có câu “Nghìn vàng gọi chút lễ thường, Mà lòng Phiếu Mẫu, mấy vàng cho cân.” ở đoạn Thúy Kiều báo ân, có nhắc đến điển cố “Phiếu Mẫu”, đó là chuyện Ngũ Tử Tư khi trốn khỏi nước Sở đã được một người đàn bà giặt quần áo cứu giúp, sau này Ngũ Tử Tư đền đáp ngàn vàng để báo ơn.

Tính hình tượng và cô đọng hàm súc: Thể hiện qua việc nội dung ý nghĩa của điển cố đôi khi hàm chứa những diễn giải, tích truyện rất dài nhưng được khái quát ngắn gọn bằng một, một vài hình tượng, câu chữ khái quát. Chẳng hạn trong “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu có câu ” Những tưởng gieo roi một lần, quét sạch Nam bang bốn cõi” có nhắc đến điển cố “gieo roi” xuất phát từ chuyện Bồ Kiên nước Tần khi dẫn quân vào đánh nước Tấn huênh hoang tuyên bố: “Cứ như số quân của ta thì chỉ ném roi ngựa xuống sông cũng ngăn dòng nước lại được” để chỉ sự hung hăng, tham vọng ngông cuồng của quân xâm lược.

Tính đa dạng và linh động: Thể hiện qua việc cùng một nội dung điển tích, có thể được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn trong “truyện Kiều” có những câu: “Dù khi lá thắm chỉ hồng”, “Nàng rằng hồng diệp xích thằng”, “Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngà”, trong “truyện Hoa Tiên” cũng có câu “Những tơ nào thắm những cầu nào xanh”, trong đó những chữ “chỉ hồng”, “xích thằng”, “Xe tơ”, “tơ thắm” đều chỉ chung một điển có đó là trong truyện dân gian Trung Quốc, có Ông Tơ hay còn gọi Nguyệt Lão, xe duyên cho các cặp đôi nam nữ bằng cách buộc chung họ bằng một sợ chỉ màu đỏ.[3]

^ “典故”. Baidu.   ^ “Đặc tính tu từ của điển cố văn học”.   ^ “ĐIỂN CỐ VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN LIÊN VĂN BẢN”.  

Bài viết này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

Top 10 Từ Điển Anh Việt Online Tốt Nhất Hiện Nay

Tìm Hiểu Về Từ Điển Anh Việt Online Tốt Nhất

1. Từ điển Anh Việt – Tra Từ Tra Câu Edutrip dictionary

Ưu điểm:

Giao diện đơn giản dễ dùng.

Từ vựng chuẩn quốc tế, được update thường xuyên.

Nhược Điểm.

Chưa có ứng dụng trên điện thoại mới chỉ tra được trên website.

2. Từ Điển Quốc Tế Cambridge Dictionary.

Link từ điển: Cambridge Dictionary

Từ Điển Quốc Tế Cambridge Dictionary

Lượng từ vựng phong phú

Nối tiếng từ lâu và có thể tra được nhiều ngôn ngữ

Sắp xếp hơi rối mắt

Hiện tại không có tra từ Anh Việt, chỉ có tra từ Anh Anh

3. Từ Điển Quốc Tế Oxford Dictionary.

Link từ điển: Oxford Dictionary

Đây là một trong những từ điển online được rất nhiều người trong giới dịch thuật sử dụng vì tính khoa học cũng như độ chính xác của từ điển này. hơn thế nữa bạn cũng có thể sử dụng để tìm hiểu cách viết văn phạm và cấu trúc chuẩn trong tiếng Anh, từ điển cũng liên kết với game hay để nâng cao vốn từ vựng.

Từ Điển Quốc Tế Oxford Dictionary.

Ưu điểm:

Thiên về tiếng Anh học thuật hơn, các tù vựng cũng mới và được update thường xuyên.

Nhược Điểm:

Từ điển Anh Việt con hơi hạn chế so với các ngôn ngữ khác vì chỉ có thể dùng trên ứng dụng

4. Từ Điển Anh Việt Soha.

Link từ điển: Soha

Từ Điển Anh Việt Soha

Sử dụng tốt cho những người muốn tra từ điển chuyên ngành.

Giao diện dễ sử dụng từ vựng được update thường xuyên

Số lượng từ không được nhiều

Chỉ có tra từ Anh Việt, không có Anh Anh hay Tra Câu

5. Từ điển Quốc Tế MacMillan.

Link từ điển: MacMillan

Từ điển MacMillan có lẽ không phải là một từ điển được nhiều người biết đến, nhưng nó cũng là một trong những từ điển nổi tiếng với những bạn học IELTS. Từ điển này được đánh giá là định nghĩ từ vựng rõ ràng, dễ hiểu, có đầy đủ ghi chú cần thiết cũng như những ví dụ sinh động, từ vựng mới và được update thường xuyên.

Từ điển Quốc Tế MacMillan

Ưu điểm:

Hợp với những bạn muốn tra từ điển học thuật và Anh ANh

Nhược điểm:

Không có ứng dụng

6. Từ điển Tác Ghép Âm Hellochao.

Link từ điển: Hellochao

Từ điển Tác Ghép Âm Hellochao

Cách tra từ đặc biệt và mới

Tra được cả cụm từ và câu mẫu

Lượng từ vựng ít và có vẻ lâu rồi chưa được update

Không có ứng dụng

7. Từ Điển Cồ Việt – Lạc Việt

Nhắc đến từ điển Anh Việc chắc chắn không ít bạn biết đén từ điện lạc việt, bây giờ đã có một tên mới đó là Cồ Việt, ( trên website vẫn là từ điển lạc việt nha các bạn). Đây là một kho từ điển khổng lồ với nhiều từ vựng thông dụng cũng như chuyên ngành.

Ưu điểm:

Có cả website và ứng dụng

Nhược điểm

Thiết kế khá cũ, không thuận tiện trong việc tra từ điển.

8. Từ Điển Đa Ngôn Ngữ 1tudien

Điểm được đánh giá cao của từ điển này là giao diện khá tối giản, dễ sử dụng, hỗ trợ được bàn phím ảo và có thể giúp bạn tra một câu hay một đoạn văn tiếng Anh. Hơn thế nữa từ điển con hỗ trợ bàn phím áo và có cả tra từ Trung Quốc cũng như tiếng Nhật nếu cần thiết.

Ưu điểm:

Đơn giản dễ sử dụng

Nhược điểm:

Không có phiên âm cũng như audio nghe

9. Google translate – Google dịch

Link từ điển: Google Translate

Có lẽ đây là từ điển quá đỗi quen thuộc với nhiều người việt nam về tính thuật tiện cũng như nổi tiếng của nó. Google dịch với giao diện dễ sử dụng. Lượng từ vựng khổng lồ gần như từ nào cũng có và có thể dịch gần hết tất cả các ngôn ngữ trên thế giới.

Google translate – Google dịch

Ưu điểm

Có hàng trăm ngôn ngữ trên thế giới

Dịch được đoạn văn và câu dài

Thông tin về từ vựng mỗi lần dịch không nhiều

Dịch đoạn văn còn sai ngữ pháp

10. Từ điển Yourdictionary.

Từ điển đặc biệt có thể tra cả câu và từ vựng dành cho những bạn muốn hiểu theo nghĩa Anh anh, từ điển có đầy đủ cả phiên âm và audio cũng như các câu mẫu khi bạn tra một từ điển bất kỳ, giao diện dễ sử dụng tra từ nhanh là điểm được đánh giá cao của từ điển này.

Ưu điểm:

Có thể tra được cả từ và câu dễ dàng.

Nhược điểm:

Chỉ có tra từ Anh Anh

Kinh Nghiệm, Giá Vé Vào Làng Văn Hoá 54 Dân Tộc Việt Nam

Địa chỉ cụ thể Làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Cách trung tâm thành phố Hà Nội hơn 40km, làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam tọa lạc tại khu du lịch Đồng Mô, xã Ngải Sơn, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Với địa hình đồi núi đa dạng e ấp bên thung lũng cùng hồ nước hiền hòa, nơi đây được xem là địa điểm cực lý tưởng cho các du khách đến tham quan, du ngoạn và tìm hiểu về nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc Việt Nam.

Hướng dẫn di chuyển vào làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Như đã đề cập bên trên, làng văn hóa cách trung tâm chỉ 40km nên việc lựa chọn di chuyển bằng xe máy cũng được phần lớn du khách lựa chọn bởi tính chủ động và có thể ngắm cảnh. Xuất phát tại Hà Nội và đi theo hướng đại lộ Thăng Long tới ngã tư Hòa Lạc, rẽ phải sẽ đi theo hướng Sơn Tây đi thêm 4-5km sẽ đặt chân tới điểm. Với hình thức này thời gian di chuyển là 1 tiếng 20 phút và tiền xăng xe dao động khoảng 50 nghìn.

Nếu đi theo gia đình hay hội nhóm mà không có ô tô thì xe bus là phương tiện di chuyển thích hợp. Có 2 chuyến xe là 74 và 107. Với xe 74, lộ trình sẽ bắt đầu từ bến xe Mỹ Đình; xe 107 lộ trình bắt đầu từ Kim Mã và có giá vé đồng giá 9.000 đồng/ lượt.

Giá vé dịch vụ tại Làng văn hóa du lịch dân tộc Việt Nam 1. Giá vé vào Làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Giống như đa phần các khu du lịch khác, ghi qua cổng du khách sẽ cần chi trả một số tiền cụ thể để mua vé. Tuy nhiên, giá vé vào cổng khá rẻ, chỉ dưới 30 nghìn đồng nên thích hợp với nhiều du khách khác nhau. Cụ thể giá vé vào cổng Làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam như sau:

Người lớn chỉ 30.000 vnđ / người

Sinh viên chỉ 10.000 vnđ / người (cần xuất trình thẻ sinh viên)

Học sinh chỉ 5.000 vnđ / người (cần xuất trình thẻ sinh viên)

Trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được miễn phí hoàn toàn

2. Giá thuê xe đạp để tham quan tại làng văn hóa

Bởi sở hữu khuôn viên rộng lớn cùng nét văn hóa đặc sắc nên nếu đi xe bus đến đây thì du khách đừng quên thuê xe đạp tại cổng ra vào. Nếu không, hành trình di chuyển sẽ khá mệt mỏi và không ngắm nhìn trọn vẹn vẻ đẹp nơi đây.

Xe đạp đơn chỉ 30.000 vnđ/buổi/xe (chỉ áp dụng sáng hoặc chiều), nếu thuê cả ngày chi phí sẽ rơi vào 50.000 vnđ.

Xe đạp đôi chỉ 50.000 vnđ/buổi/ xe và nếu thuê cả ngày là 70.000 vnđ.

Lưu ý với mỗi lần thuê xe đạp, du khách cần đặt cọc số tiền 200.000 vnđ cho một xe.

3. Giá vé xe điện di chuyển trong khuôn viên làng văn hóa

Vé xe điện sẽ được bán ngay tại cổng ra vào chỗ quầy bán vé và bắt đầu chạy từ 8h00 sáng cho đến 17h00 chiều. Khi sử dụng dịch vụ, du khách sẽ được lái xe chuyên nghiệp dẫn đến các địa điểm theo thứ tự và có thời gian dừng nghỉ để check in, ngắm cảnh và tìm hiểu văn hóa. Như vậy thì lịch trình di chuyển sẽ được đảm bảo và trọn vẹn hơn.

Ngày thường giá vé rơi vào 30.000 vnđ/ người lớn và 20.000 vnđ/ sinh viên, học sinh

Ngày cuối tuần thì mỗi mức giá tăng thêm 5.000 vnđ

Nếu đi theo đoàn và muốn tham quan theo sở thích, mong muốn thì du khách có thể thuê nguyên xe 13 chỗ với giá 450.000 đồng/giờ

4. Chi phí lưu trú qua đêm tại nhà sàn làng văn hóa

Thuê nhà sàn thường áp dụng cho những du khách đi theo đoàn đông, hội nhóm lớn, phòng ban hoặc công ty. Một khu nhà sàn có thể ở được từ 40 đến 80 người, có đầy đủ phòng tắm, quạt, chăn gối và đầy đủ các tiện nghi cần thiết. Chi phí khá rẻ và được tính theo đầu người:

Người lớn: 100 nghìn/người/đêm

Người già trên 60 tuổi hoặc sinh viên: 70.000 vnđ/người/đêm

Học sinh từ 6 tuổi đến 18 tuổi: 50.000 vnđ/người/đêm

Thời gian mở cửa tại Làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Có thể du khách chưa biết, làng văn hóa dân tộc sẽ không mở cửa đón khách vào thứ hai hàng tuần, chỉ đón từ thứ 3 cho đến chủ nhật. Cũng bởi vậy du khách nên chú ý để tránh mất thời gian và chi phí di chuyển.

Thời gian mở cửa:

Sáng từ 8h00 đến 11h00

Chiều từ 13h đến 16h30

Những địa điểm hấp dẫn không thể bỏ lỡ tại làng văn hóa 54 dân tộc 1. Khu làng dân tộc với 4 cụm làng tiêu biểu

Chắc chắn đây sẽ là điểm đến đầu tiên mà bất cứ du khách nào khi tới làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam cũng đều đến chiêm ngưỡng và tham quan. Tổng diện tích cả khu là 198,61ha và được chia thành cụm làng chính theo từng vùng miền. Bên cạnh đó, khuôn viên tiểu cảnh hay mô hình được xây dựng theo quần thể tái hiện lại hầu hết cấu trúc làng bản dân tộc nước ta. Chúng được phục vụ vào mục đích bảo tồn, giới thiệu và phát triển nền văn hóa.

Tại khu dân tộc, du khách sẽ có cơ hội tham gia vào rất nhiều lễ hội văn hóa truyền thống được tái hiện lại và đây cũng chính là dịp du khách tận hưởng tất cả các không khí sôi động, hòa mình vào bản sắc vùng miền, quê hương như:

Chợ phiên vùng cao Tây Bắc

Lễ hội cầu mưa của đồng bào dân tộc Cor tại Quảng Nam

Lễ hội trỉa lúa của đồng bào dân tộc Brâu tại Kon Tum

Lễ hội đua bò Bảy Núi tại An Giang

Chợ nổi cái Răng nức tiếng Cần Thơ

2. Khu trung tâm văn hóa và các dịch vụ vui chơi giải trí

Khu trung tâm văn hóa và vui chơi được đặt trong khuôn viên có kết nối giữa cổng chính cùng các khu chức năng sẽ không khiến bất cứ du khách nào phải thất vọng. Đây sẽ là nơi tổ chức rất nhiều các hoạt động văn hóa, thể thao hay giải trí nhưng vẫn xen lẫn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

3. Khu kiến trúc di sản thế giới

Bên cạnh mô hình 1:1 các nét đẹp trong đời sống, văn hóa của đồng bào 54 dân tộc thì du khách sẽ phải ngạc nhiên với hàng loạt các kiến trúc di sản thế giới được điêu khắc tỉ mỉ và vô cùng chân thực. Rất nhiều bạn trẻ đã lựa chọn địa điểm này là nơi check in sống ảo và cho ra đời những tấm ảnh nghìn likes.

Những công trình kiến trúc nổi tiếng sẽ đưa du khách du lịch vòng quanh thế giới chỉ trong vài chục phút, từ Lào, Thái Lan cho đến vạn lý trường thành rồi sang châu Âu với tháp Eiffel hay kim tự tháp Ai Cập,…

4. Khu công viên và cảng thuyền thơ mộng

Làng văn hóa có vị trí đắc địa khi được bao quanh bởi nhiều ngọn núi nhưng vẫn sở hữu hồ Đồng Mô trong vắt, tươi xanh. Khi ghé làm tham quan, du khách có thể ngồi thuyền để cảm nhận sự tĩnh lặng của sông nước, để thư thái tâm hồn và chìm đắm trong cảnh non nước hữu tình. Nếu đã quá quen với những chiếc thuyền du lịch sang trọng và khổng lồ thì một chiếc thuyền nan sẽ đem lại cảm giác gần gũi, thân thuộc và ấm áp.

5. Khu tổng hợp các dịch vụ tại làng văn hóa

Khu tổng hợp có quy mô vô cùng lớn và thích hợp cho các dịch vụ du lịch tổng hợp hay thể thao. Cũng bởi vậy nên các hoạt động teambuilding làm gia tăng tinh thần đoàn kết của các thành viên cũng sẽ có không gian rộng rãi, thoáng mát để tổ chức.

6. Khu rừng cây xanh và hồ nước Đồng Mô

Với món quà thiên nhiên ban tặng thì không gian cảnh quan đang được nhà đầu tư chú trọng và phát triển đồng thời kết hợp nhiều hoạt động sinh thái phù hợp, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững. Du khách đến nơi đây như được lạc vào một chốn bồng lai tiên cảnh thiên nhiên hoang sơ nhưng không kém phần lãng mạn, thơ mộng. Một vài hoạt động hấp dẫn bên hồ Đồng Mô như cắm trại, nướng thịt,…

Những món ăn tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Điểm đặc biệt là Làng văn hóa rất thoải mái trong việc chuẩn bị đồ ăn cũng như cho phép du khách mang đồ ăn từ bên ngoài vào, chỉ cần giữ gìn vệ sinh chung và đảm bảo cảnh quan trong khuôn viên. Tổng thể khu du lịch có rất nhiều khoảng trống, bãi cỏ hay bóng cây nên chỉ cần chuẩn bị một chút đồ ăn và tấm bạt là đã có chuyến picnic vô cùng ý nghĩa rồi.

Nếu muốn dùng bữa ngay trong khu du lịch thì chuỗi nhà hàng ẩm thực ven hồ sẽ đáp ứng đủ nhu cầu của du khách với rất nhiều món ăn ngon mang đậm bản sắc văn hóa. Nhà hàng Dân Tộc được đặt ngay gần chùa Khmer và tháp Chăm với thực đơn là các món ăn truyền thống như cá suối, lợn rừng, gà nướng mật ong, dê núi,… Ngoài ra, buffet với gần 100 món cũng là lựa chọn hoàn hảo có chuyến tham quan.

Đi làng dân tộc nhưng muốn mua một vài sản phẩm về làm quà cho người thân và bạn bè thì du khách hãy ghé qua làng dân tộc Tày, Thái hoặc một số quầy lưu niệm khác. Du khách nên tham quan một lượt, ngắm nghía và lựa chọn một số sản phẩm thủ công như túi, ví, móc chìa khóa,… hay những món ăn nổi tiếng như: mật ong, làm xưởng, măng, miến,…

Các lưu ý khi tham quan làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam

Làng văn hóa 54 dân tộc Việt Nam là một địa điểm nổi tiếng nên du khách đến đây cũng nên chú ý một vài điểm mà chúng mình đưa ra sau đây để chuyến hành trình đầy ắp tiếng cười và niềm vui:

Cuối tuần tại làng văn hóa khá là đông với nhiều nhóm chụp ảnh kỷ yếu hay trường cho học sinh đi tham quan. Do vậy, du khách nếu có thể hãy đi vào ngày thường.

Nên theo dõi dự báo thời tiết để lựa chọn ngày trời đẹp, nắng đẹp hay không quá nóng nực. Bởi như vậy hành trình sẽ khó chụp ảnh và mệt mỏi.

Nhà vệ sinh được lắp đặt ở rất nhiều vị trí tại khuôn viên nên du khách hãy thỏa sức mang thật nhiều bộ quần áo đẹp đẽ, lung linh để tha hồ tạo dáng chụp ảnh. Bên cạnh đó, quần áo sẽ được thuê tại khu du lịch nhưng sẽ không có phụ kiện. Bởi vậy nên du khách hãy chủ động trong việc chuẩn bị.

Làng Văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ là một điểm đến không thể bỏ qua với những du khách yêu thích lịch sử, văn hóa dân tộc. Đồng thời, du khách sẽ được khám phá nhiều hơn về đời sống, văn hóa đặc trưng và cảm thấy tự hào về sự đa dạng văn hóa cũng như yêu dải đất hình chữ S này nhiều hơn nữa. Hy vọng rằng những kinh nghiệm, dịch vụ, giá vé vào làng văn hóa 54 dân tộc anh em trong bài viết mà chúng mình đưa ra sẽ giúp ích cho chuyến đi của du khách.

Đăng bởi: Hà Hà Vũ

Từ khoá: Kinh Nghiệm, Giá Vé Vào Làng Văn Hoá 54 Dân Tộc Việt Nam

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Tác Phẩm Văn Học Kinh Điển Của Việt Nam trên website Cuik.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!